Hiển thị các bài đăng có nhãn Động. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Động. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 23 tháng 7, 2011

Về động Từ Thức gặp tiên

Với vẻ đẹp hoang sơ của các nhũ đá, động Từ Thức (Thanh Hóa) đưa du khách về với thế giới cổ tích thần tiên.
"Khách về Nga Thiện quê tôi
Xem động Từ Thức, thăm người cảnh tiên

Nhìn càng đắm ngắm càng say
Mà xem phong cảnh thắm tình nước non".

Cách thành phố Thanh Hóa chừng 50 km về phía Đông Bắc, men theo QL13, hang động Từ Thức tọa lạc ngay dưới chân dãy núi Bạch Tượng thuộc địa phận thôn 8, xã Nga Thiện, huyện Nga Sơn (Thanh Hóa). Trước đây động động Từ Thức có tên là động Bích Đào nhưng vì gắn với câu chuyện tình Từ Thức gặp tiên nên sau này dân gian đổi gọi là động Từ Thức.

Đường lên động du khách sẽ không cảm mệt mỏi vì phải leo núi, bởi bên lề đầy những cây cổ thụ tỏa bóng râm mát. Những dây leo to vắt ngang qua đường đan vào nhau tạo thành những cái võng, ai tinh nghịch còn leo lên đu đưa chụp vài tấm hình.

Lên đến cửa động bạn sẽ thấy hai bài thơ chữ Hán, một khắc trên phiến đá đặt dưới nền động và một khắc trên vách đá cao. Bài thứ thứ nhất là của chúa Trịnh Sâm với bút danh Nhật Nam Nguyên. Bài thơ thứ hai do Lê Quý Đôn sáng tác vào thế kỷ 18 được khắc vào đá năm 1905, trong đó có đoạn:

Văn đạo thần tiên sự điểu mang
Bích Đào động khẩu thái hoang lương
Càn khôn nhất hạt cùng Từ Thức
Vân thủy song nga lão Giáng Hương.
< Động Từ Thức.

Động chính gồm hai phần, phần ngoài rộng, trần động hình vòng cung như chiếc bát úp khổng lồ.
< Buồng tắm cô tiên.

Phía dưới vòng cung có một nhũ đá "tỏa" xuống trông như trái đào tiên nên động còn được gọi là Bích Đào. Dưới là nền đá phẳng, nhẵn, là vết tích đền thờ Từ Thức còn lưu lại đến hôm nay. Sau đó là đụn nhũ thạch lấp lánh được ví như những kho chứa vàng bạc, gạo muối... được dân gian lưu truyền.
< Cửa hang, nơi thắt của hồ lô.

Cửa hang chỉ to vừa một người đi. Nhìn một cách tổng thể, động như một chiếc hồ lô. Chỗ nút thắt của cái hồ lô cũng là nơi mở ra cho du khách khám phá một thế giới tự nhiên với vô vàn nhũ đá đẹp như bức tranh thiên nhiên kỳ ảo.
< Kho gạo hấp dẫn hơn bởi những hòn đá mịn được gắn chặt, đều màu nâu bạc.

Bước chân vào hang động, du khách có thể thấy ngay một bức tranh với những cây cổ thụ bằng đá. Bên cạnh các gốc cây là hình ảnh một con chăn khổng lồ đang cuộn tròn ôm lấy những quả trứng vàng. Hòa chung với cảnh tượng thiên nhiên đó là một dàn nhạc nhũ đá tạo nên các âm thanh độc đáo.
< Kho muối là một quần thể thạch nhũ bé, trắng toát.

Càng vào sâu lòng động càng rộng ra. Đầu tiên bạn sẽ thấy ngỡ ngàng khi gặp bàn Cổ tam sinh có đủ lợn, trâu, dê... một mâm cỗ gần giống như thật. Rồi những dấu tích về tình yêu của Giáng Hương và Từ Thức như: buồng tắm của Giáng Hương và thư phòng của Từ Thức bằng đá; những bông hoa, quả đào tiên, vầng trăng và có cả những đôi chim thạch nhũ. Đối diện là cảnh là ao bèo gợi hình tượng quê hương trong sự tưởng nhớ của chàng thư sinh Từ Thức...

< Kho tiền là chuỗi thạch nhũ to nhỏ chảy từ trên xuống như những xâu quan tiên thời xưa.

Vào trong hang lớn, đầu tiên du khách được đi qua một chiếc cầu gỗ. Dưới chiếc cầu này là một suối tiên (hay còn gọi là buồng tắm tiên). Vào mùa mưa, những giọt nước mưa thấm qua khe đá chảy xuống tạo thành dòng suối chảy quanh năm. Bên cạnh suối tiên là hình tượng một con voi bên các nàng tiên vãn cảnh.
< Những nhũ đá rũ xuống từ trên nóc đông phát ra âm thanh độc đáo.

Đi sâu vào trong, một hình ảnh ao bèo tượng chưng cho làng quê của Từ Thức. Bên ao bèo có cây, hoa, con rùa, cóc… và đặc biệt là bụi tre già đã lụi tàn. Những gốc tre ấy đang mọc lên hai cây măng tượng trưng cho sự trưởng thành nối tiếp nhau của con người Việt Nam “tre già măng mọc”.

Cảnh tiếp là một ngã rẽ, một ngả theo tương truyền là đường lên cõi tiên của Từ Thức. Tại đây có quán nghỉ chân bằng đá mà chàng từng nghỉ suốt dọc hành trình và còn đó những mắc treo áo, treo mũ bằng đá. Bên cạnh đường lên tiên là một ngã rẽ hỏm sâu theo đường xoáy ốc vẫn bí ẩn muôn đời nay, nhân dân quen gọi là đường xuống Địa ngục lạ...

Phía bên trên vườn hoa Từ Thức đang thi nhau khoe sắc. Theo người xưa kể lại, Từ Thức là một người rất yêu thiên nhiên, yêu quý phụ nữ nên trong hang của ông khi nào cũng có đủ các loại vàng bạc, châu báu, hoa thơm quanh nhà và đặc biệt là hình tượng một kho vải lụa để tặng các nàng tiên.

< Một góc buồng tắm cô tiên.

Nét độc đáo của hang động Từ Thức không chỉ ở những hình tượng của các nhũ đá. Trong hang còn có đường xuống âm, đường này ăn sâu dưới lòng đất thông ra biển. Phía trên đường âm là đường lên trời, đường đi ngoằn nghèo quanh hang và có một lỗ thông lên đỉnh núi. Vào trong hang, chúng ta có thể hình dung ra được mình đang sống trong một thế giới thần tiên huyền bí.

Một vòng quanh động, giữa cảnh vật hư ảo đẹp như được vẽ, trong lòng du khách sẽ vương vấn mãi một câu hỏi: liệu chàng Thức có trở về được cõi tiên để gặp nàng Hương khi động này đúng thật là cõi tiên

Tích Từ Thức Và giang Hương

< Bàn thờ tiên với những nhũ đá nhú lên tạo ra nhiều nhân hình kỳ thú.

Từ Thức người Tống Sơn (nay là Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa), làm tri huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, nhân đi chơi hội đã cởi áo gấm giúp một cô gái xinh đẹp gặp tình huống éo le. Thời gian sau chàng từ quan, tìm thú vui nhàn tản. Một lần ra cửa biển Thần Phù, Từ Thức đi qua núi và thấy một chiếc động, được bà chủ gả cho Giáng Hương, chính là người chàng đã cứu thuở nào.

< Ao bèo.

Sống với nhau được một năm, dù thuận hòa, êm ấm, Từ Thức chợt nhớ nhà xin được về thăm. Cảm thông nỗi niềm của chồng, Giáng Hương sắm xe và gài sẵn phong thư kín nói lời ly biệt. Khi về quê tất cả đều đổi thay, Từ Thức hỏi một cụ già râu tóc bạc phơ thì mới biết đó là cháu nội của mình. Chàng đã đi quá lâu. Từ Thức muốn trở lại cõi tiên với vợ nhưng chẳng còn dịp may.

Du lịch, GO! Theo Báo Đất Việt, Tuoitre online

Thứ Tư, 20 tháng 7, 2011

Qua đêm trong hang Én – Phong Nha Kẻ Bàng

Trước khi tìm tới hang Én, chúng tôi đã lên mạng nhằm tìm thông tin nơi này. Nhưng chúng tôi chỉ tìm được một vài tin vắn trên tạp chí National Geographic đánh giá đây là một trong những hang động kỳ vĩ của thế giới. Lý do trên đã thôi thúc chúng tôi cố gắng đến hang Én nhằm hưởng cảm giác của kẻ chinh phục.

“Vượt thác, băng rừng” đến hang Én 

Buổi sáng, sau khi lễ đền Tám Cô trên đường HCM nhánh tây theo truyền thống tâm linh của người bản địa, chúng tôi đi tiếp đến km 35 và bắt đầu lần theo lối mòn đi vào cánh rừng nguyên   sinh dài ngút mắt.
Hành trình dài 9km chia ra hai chặng rạch ròi: chặng thứ nhất hầu hết là dốc cao, dưới tán cây rừng mọc trên núi đá vôi; chặng hai chủ yếu men theo con suối chảy quanh co bên những cánh rừng thưa hoặc thảm cỏ dại, cây bụi ẩm ướt.
.
< Bên ngôi nhà tranh của người Vân Kiều Bản Đoòng.

Thực ra, cửa rừng đồng thời là đỉnh núi Ba Giàn (Giàn có nghĩa con dốc theo tiếng địa phương) chỉ cách lề đường HCM khoảng 20 m nằm trên độ cao 553 m so với mặt biển.

Do vậy, chặng đầu chúng tôi luôn đi xuống dốc, để rồi lối mòn tiếp tục đưa mọi người men theo nhiều con suối nhỏ trước khi đặt chân tới Bản Đoòng, một ngôi làng của người Vân Kiều giữa bốn bề núi non heo hút như cô lập với thế giới bên ngoài.

< Hành trình đến hang Én hầu hết là lội suối và len lỏi trong rừng già.

Đó là 6 hộ dân từ huyện Quảng Ninh chạy nạn lũ lụt về đây - vùng lõi vườn quốc gia từ 1993. Họ an phận sinh sống chủ yếu bằng nghề khai thác mật ong và làm nương rẫy.

Thế nhưng, tai ương vẫn chưa buông tha, bởi trận lũ lịch sử tháng 10-2010 đã quét sạch toàn bộ nhà cửa cùng 11 con bò là tài sản mà họ tích cóp cả đời người. Riêng dân bản, gồm 27 người, tất cả  phải leo cây mít đầu làng đeo bám suốt 2 ngày mới thoát chết.

< Sau 7 giờ đồng hồ băng rừng vượt suối, mọi người mới tiếp cận cửa hang Én.

Bản Đoòng cũng là khởi điểm của chặng đường toàn thảm cỏ dại đan xen rau tàu bay, chuối rừng, môn dại và cây Nàng Hai - hay còn gọi là lá Han, một loại cây độc mà bất cứ ai vô tình đụng vào nó, lớp lông trên mặt lá sẽ gây ngứa suốt hàng tuần mới khỏi.

Lối mòn càng lúc càng khó đi bởi cây dại phát tán, che khuất, chúng tôi quyết định “hành quân” dưới suối Rào Thương cho thông thoáng. Rào Thương hay còn có tên suối Đoòng, bắt nguồn từ đỉnh núi U Bò và một số khe suối nhỏ trên dãy Trường Sơn.

Và trên đường đi, nó chảy qua nhiều rặng núi đá vôi giữa đại ngàn rồi chui sâu trong hang Én, hang Sơn Đoòng những hang kỳ vỹ nhất thế giới trước khi hòa mình vào sông Chày, chấm dứt vai trò lịch sử của nó.

< Tác giả đứng bên phải.

Một trong những cảm giác khoan khoái nhất là lội suối vì sự mát lạnh của dòng nước dường như xua đi cái nắng oi bức của gió Lào, thêm nữa nó khiến tinh thần chúng tôi thêm phấn chấn và tạm quên đi sự nhức nhối ở đôi chân do leo trèo ban sáng.

Thỉnh thoảng lại phát hiện những dấu chân thú trên bờ cát cùng vô số đàn bướm đủ sắc màu bay rập rờn ven bờ gợi nhớ cái câu “nước khe cạn bướm bay trên lèn đá” trong ca khúc Trường Sơn Đông - Trường Sơn Tây. Từ đây đến hang Én còn 3,5 km theo lời anh kiểm lâm dẫn đường.

Gần chiều, lội qua hết góc khuất vì đám chuối rừng, bất ngờ thấy cửa hang Én đã trước mặt, một cảm xúc lạ lùng liên tiếp dâng trào. Cửa hang nhìn ra hướng đông nam có bề rộng gần 100m. Sau lớp cửa dưới ánh đèn rọi đeo trên đầu của chúng tôi, là bãi đá sõi rộng mênh mông.

Ngắm én và thưởng thức cá lạ

< Dòng suối Rào Thương, chảy vào  khoang thứ 1 – hang Én dưới ánh sáng của giếng trời.

Lòng hang bỗng mở ra ba động nước khổng lồ được chia cắt bằng những đồi dốc đầy cát mịn và đá tảng xếp chồng chất lên nhau chiếm hết phân nửa chiều cao của hang.

Ở trên ấy còn hiện diện một cây to nguyên gốc chắn ngang như chứng tỏ vào mùa nước lũ, dòng Rào Thương ngập tràn lòng hang và để lại nhiều thứ khi nước đã rút đi.

Nét độc đáo riêng của hang Én là lẫn trong sắc màu dòng sông xanh ngăn ngắt, ánh sáng chiếu rọi từ những giếng trời trên trần hang làm cảnh vật càng thêm lung linh, huyền ảo.

< Để đi xuyên suốt  hang Én nhiều đoạn phải lội trong làn nước  mát lạnh.

Trên trần, trong những hốc đá, thạch nhũ muôn hình vạn trạng là tổ của hàng vạn con én và dơi, đó cũng là nguyên nhân hang mang tên Én.

Theo anh Thành Huế - Phó Chủ tịch Hiệp hội Du lịch Tỉnh Quảng Bình, hang Én từng là nơi người dân tộc Arem chọn làm nơi sinh sống từ trăm năm về trước, họ có biệt tài leo trèo chẳng khác loài vượn, loài voọc chuyền cành trên cây, trong mùa én làm tổ họ thường  trèo  lên vách đá, trần hang để bắt én non làm thực phẩm.

< Ở trên đồi đá cách nền hàng hơn 50m,  hiện diện   một cây to nguyên gốc chắn ngang  như chứng tỏ vào mùa nước lũ, dòng Rào Thương ngập tràn lòng hang và để lại nhiều thứ khi nước đã rút đi.

Hiện nay người Arem đã chuyển về đường 20 sinh sống nhưng hàng năm vào ngày 15 tháng 5 âm lịch họ đều kéo về hang Én, tổ chức hội ăn én qua hình thức cúng bái thần rừng và đi lượm én con vì yếu sức không thể bay cao nên  rơi xuống đất”.

Kỳ thực, lúc này chưa tới ngày hội ăn én nhưng chúng tôi vẫn thấy không ít chim én mới ra ràng nằm thiêm thiếp trên nền hang, chợt nghe động, theo bản năng chúng gắng sức vổ cánh bay song được vài ba mét lại sa xuống đất, trông rất đáng thương.

< Cửa hang hướng Tây bắc, nhìn ra cánh rừng nguyên sinh và trần hang là nơi hàng vạn chim én làm tổ. 
Đây cũng là hướng đi động Sơn Đoòng – hang động lớn nhất thế giới cách 2 km.


Hang Én có tổng chiều dài 1.645 mét xuyên suốt cả một quả núi và trổ 3 cửa động, 1 nằm lưng chừng núi và 2 ở chân núi hướng đông nam, tây bắc theo dòng chảy suối Rào Thương là đặc điểm hiếm thấy so với những hang động nổi tiếng ở Việt Nam mà chúng tôi đã từng đặt chân đến.

Hơn thế nữa, từ trong hang nhìn ra cửa phía tây bắc với vòm hang cao hơn 80m thấy cảnh vật bao la sinh động, những đàn én chao lượn trên trần hang, bãi cát rộng rãi, cả những cánh rừng nguyên sinh xanh mát...
Đây cũng nơi mà nhiếp ảnh gia Carsten Peter chọn làm chủ đề để bấm máy nhằm cho ra đời tác phẩm động hang Én, đã được  tạp chí National Geographic bình chọn là một trong những bức ảnh thiên nhiên đẹp nhất tháng 3.


< Nướng cá bên đống lửa.

Đêm về, mấy anh em Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng rủ rê chúng tôi tỏa đi các nơi giăng lưới. Thì ra con suối Rào Thương có rất nhiều loại cá mang cái tên khá lạ lẫm: cá mát, cá cồ, trầu đá... riêng cá leo được xem là loại “quý tộc” vì thịt thơm, ít xương... phải bỏ công giăng lưới trong hang mới hy vọng bắt được nó.

Sau một giờ thả lưới chúng tôi thu hoạch được 2 nồi cá, mà chú nào kích cỡ cũng bằng phân nửa cổ tay, đủ để xiên cây nướng ăn ngay tại chỗ, chưa kể một số dành nấu cháo điểm tâm sáng mai.

Và giấc ngủ đến thật dịu dàng trong âm thanh rì rào, êm dịu của làn gió mát lạnh lùa vào hang như lời thì thầm của rừng, của núi...

Du lịch, GO! - Theo Nguoilaodong

Chủ Nhật, 17 tháng 7, 2011

Khám phá 'Động Phong Nha' của miền Tây

Những vách đá vôi sừng sững, những hang động kỳ thú, thạch nhũ nhiều hình dạng, núi Đá Dựng của Hà Tiên được mệnh danh là 'Động Phong Nha' của vùng đất phù sa.

Núi Đá Dựng, tên chữ là Châm Nham Lạc Lộ gắn với truyền thuyết khi đến khai mở đất Hà Tiên, thấy thỉnh thoảng nông dân nhặt được ngọc quý trên núi, nên Mạc Cửu đã đặt tên cho núi là Châu Nham - núi ngọc.

Núi cao khoảng 100m, trông giống hình tam giác cân toạ lạc giữa ruộng lúa bao la thuộc xã Mỹ Đức, thị xã Hà Tiên, Kiên Giang. Có hai hướng để đến đây, một là trên đường đến Thạch Động có ngã rẽ ra đồng, rẽ vào hướng đó, đi thêm gần 2km là tới. Đường thứ hai là sau khi qua khỏi Thạch Động, hướng về cửa khẩu Xà Xía có đường đất đỏ rẽ vào.
.
Từ xa, núi trông như một khối dính liền, xanh ngát màu xanh cây cỏ, nhưng khi đến gần, núi được kiến tạo bởi nhiều lớp đá vôi, qua thời gian, bị nước biển xâm thực lồi lõm tạo thành khoảng 14 hang động lớn và nhiều hang động nhỏ liên thông như một mê cung.

Mỗi động có một vẻ đẹp riêng và được đặt tên dựa theo 3 nguyên tắc: truyền thuyết, hình dạng đá thạch nhũ và cảm giác của động mang lại cho du khách khi khám phá.
Dựa vào truyền thuyết có các động như động Cội Hàng Da, được cho rằng là nơi sinh sống của Thạch Sanh, cũng là nơi chàng giương cung bắn con chim đại bàng đang cắp công chúa khi nó bay ngang qua. Động Lầu Chuông, nơi Thạch Sanh bị Lý Thông giam giữ sau khi cứu được công chúa. Vừa thất vọng về người anh kết nghĩa, vừa buồn nhớ đến công chúa, chàng giải khuây bằng cách gõ vào các thạch nhũ. Không ngờ đá phát ra những âm thanh trầm bổng, ai oán như nỗi lòng của chàng. Bài ca theo gió đến tận cung đình, vang đến tai công chúa. Biết được nỗi lòng và nơi giam giữ Thạch Sanh, nàng bèn nhờ vua cha đến giải thoát cho chàng.

Hang động gắn với những tạo hình thạch nhũ như động Dơi có những thạch nhũ hình bình hồ lô, động Thần Kim Quy với khối đá màu vàng hình con rùa đang ngẩng đầu, động Bồng Lai có hình bàn tay Phật in ở vách đá hay động Sám Hối, có một tượng đá to như hình nhà sư đang cúi đầu vào vách đá trầm tư.
Những động động dựa vào cảm giác của du khách như động Cổng Trời càng đi sâu, động càng nhỏ, mang đến cảm giác đang đi sâu vào lòng đất âm u, nhưng thật ra, động ăn dần lên cao và thông ra khoảng không đầy ánh sáng bên ngoài.
Động Xã Lộc Kỳ có hai "giếng trời" như nắp động thông lên bên trên với dây leo, hằn rõ lên vách đá vôi có hình vân kỳ lạ. Động Trống Ngực, khi du khách đưa tay vỗ vào ngực, thì vách động dội lại thanh âm giống như tiếng trống...
< Động Thần Kim Quy.
Để chinh phục tất cả 14 động, du khách mất khoảng từ 1 - 2 giờ đi theo cầu thang ôm lượn theo suốt chiều dài của ngọn núi dài gần 3.200m.

Đường lên núi cực đẹp với những rể cây buông thõng, bốn bề là đồng bằng bao la, trái ngược với cảm giác âm u, lành lạnh trong lòng động nên sau khi khám phá một động bất kỳ, du khách lại vội vàng ra cái vùng sáng ấy, hít thở hương lúa non thơm lừng, đón những ngọn gió mát rượi hay phóng tầm mắt ra xa để chiêm ngưỡng những cánh đồng lúa xanh tốt, ngắm nhìn chú trâu gặm cỏ, ngắm cụm núi và biển Mũi Nai sóng vỗ.

Du lịch, GO! - Theo Bưu Điện VN

Thứ Ba, 12 tháng 7, 2011

Núi Ngọc và động Phúc Long - Hà Nam

Núi Ngọc nằm ở thôn Đanh, xã Ngọc Sơn, huyện Kim Bảng, Hà Nam. Núi Ngọc cách chùa Bà Đanh 100m về phía bắc. Từ thị xã Phủ Lý, ngược sông Đáy 7km, tới bến Đanh, đi tiếp 100m là đến núi Ngọc.

Quả núi nằm sát mặt nước sông Đáy. Núi Ngọc là một ngọn núi đá vôi trong hệ thống núi đá kéo dài từ Hòa Bình xuống hướng tây bắc đông nam qua xã Tượng Lĩnh – Khả Phong – Liên Sơn của huyện Kim Bảng. Tuy nhiên núi Ngọc nằm tách riêng, ngăn cách vệt dãy núi kia bằng con sông Đáy.

Núi Ngọc không cao lắm. Ở đây cây cối mọc nhiều, cây to cây nhỏ mọc chen nhau cành lá xum xuê do dân địa phương có ý thức giữ gìn. Trên núi có một cây si cổ thụ, tương truyền có tới hàng trăm tuổi. Đứng trên ngọn núi, du khách có cảm tưởng như được tách riêng biệt khỏi sự ồn ào náo nhiệt của cuộc sống hiện đại để hòa mình vào sự yên tĩnh thuần khiết của thiên nhiên với núi, sông, cây cỏ. Ngay dưới chân núi có một ngôi đền cổ thờ một ông nghè có công với dân làng.
.
Nối giữa chùa Bà Đanh và núi Ngọc là một bãi rộng trồng cây lưu niên, chủ yếu là vải thiều, nhãn, tùy thời vụ có xen cả ngô lúa. Nằm hoàn toàn biệt lập với khu dân cư, trên núi, dưới sông, gần đền, gần chùa, núi Ngọc quả là một thắng cảnh của đất Kim Bảng, một địa điểm du lịch đầy hấp dẫn.

Động Phúc Long:

Từ thị xã Phủ Lý theo quốc lộ 1A đi về phía Ninh Bình 2km, rẽ phải theo đường qua cầu Đọ về Châu Sơn 4km sẽ đến động.

Động Phúc Long nằm trong khu vực núi Chùa thôn Châu, thuộc núi Kiện Khê (còn gọi là núi Thiên Kiện). Núi Chùa là một trong số những ngọn núi nối đuôi nhau ở địa phận thôn Châu Sơn và thôn La Mát thuộc Kiện Khê. Núi Chùa là ngọn trung tâm, trên đó có chùa Hang, có khu miếu ở phía bắc chùa. Vua Trần Duệ Tông (1373-1377) đã cho lập đền thờ trên núi, đền thờ này bị nhà Nguyễn phá vào năm Tân Dậu (1801) và cho xây lại ở thôn Châu như vị trí hiện nay. Đại Việt sử ký toàn thư chép rằng, tục truyền trên núi Thiên Kiện có cây tùng cổ có rồng quần ở trên, vua Trần Thái Tông đã lập hành cung và Trần Đế Nghiễn cho quân vận chuyển tiền đồng về cất giấu năm 1379 ở nơi đây. Thời Pháp thuộc, Viễn Đông bác cổ đã liệt hạng núi Chùa là cổ tích danh thắng (ngày 01 tháng 6 năm 1925).

Núi Chùa do các khối đá vỉa xếp chồng chất, lởm chởm như đầu con rồng. Có mỏm đứng chơ vơ trên đỉnh như sừng rồng, nhiều mỏm đá dựng ngược như tóc rồng, phía nam núi có một mái đá nhô ra, dưới mái đá có những vỉa bò lan, nổi cộm lại thành miệng con rồng mà ngôi chùa như hạt ngọc nằm gọn trong miệng con rồng, nhiều vỉa đá xếp thành các bậc thang rất thuận tiện cho việc lên núi ngắm cảnh. Trên đỉnh núi có nhiều cây cổ thụ kiểu dáng khác nhau, từ đây có thể bao quát cảnh sơn thủy hữu tình của sông Đáy, núi Bút Sơn, thành nhà Hồ, núi rừng Thanh Thủy và dòng sông Đáy.

Từ đất bằng leo lên chừng 2m tới cửa động, từ cửa động đi vào chừng 5m tới một ngã ba, rẽ bên phải đi xuống dần hàng chục mét là động có nhiều thạch nhũ đẹp, rẽ bên trái là đường lởm chởm nhũ đá nhô lên, rủ xuống tạo thành nhiều hình thù kỳ lạ. Động Phúc Long có dáng một con rồng thắt túi, có nhiều dơi bám trên vách nên nhân dân địa phương còn gọi đây là hang dơi. Động Phúc Long có sức chứa vài trăm người. Động hài hòa với cảnh quan núi Chùa, ngay bên cạnh là đình và chùa thôn Châu, tạo thành một di tích thắng cảnh hấp dẫn đối với du khách gần xa.

Du lịch, GO! - Theo Cổng TTĐT tỉnh Hà Nam

Thứ Ba, 5 tháng 7, 2011

Chiêm ngưỡng động tiên Cốc Ly

Là một trong những hang động hùng vĩ và đẹp nhất của huyện Bắc Hà, Lào Cai, động tiên Cốc Ly được coi là một "Bích Động” hay “Phong Nha Kẻ Bàng” mới, trên cao nguyên gần 2.000 m so với mực nước biển.

< Cửa động tiên Cốc Ly.

Động tiên Cốc Ly nằm trên tuyến du lịch khám phá sông Chảy. Động được những người dân bản địa nơi đây phát hiện từ rất sớm nhưng vẻ đẹp và sự thơ mộng của nó chỉ thực sự được biết đến trong một vài năm trở lại đây khi du lịch phát triển, đặc biệt khi tuyến du lịch Bảo Nhai - chợ Cốc Ly được hình thành.

Sở dĩ được gọi là động tiên bởi nó được gắn liền với truyền thuyết về ba nàng tiên giáng trần. Ba nàng tiên được Ngọc Hoàng cho đi thăm thú cõi trần gian, khi ngang qua vùng này đã bị vẻ đẹp hữu tình của hang động níu giữ, không muốn về trời. Ngọc Hoàng biết chuyện đã nổi giận, sai Thiên Lôi xuống trị tội.
.
Biết không thể thoát khỏi sự trừng phạt của nhà trời, ba nàng gieo mình tự vẫn. Xác họ được dòng nước đưa xuống vùng hạ lưu (trung tâm xã Bảo Nhai, huyện Bắc Hà ngày nay), dân làng gần đó vớt lên tống táng và lập miếu thờ mang tên miếu Ba Cô, tục truyền miếu rất thiêng.

< Cảnh non nước hữu tĩnh bên ngoài động.
< Nhũ đá như những đài hoa lớn.
< Có lúc lại như những đóa sen không lồ tỏa từ trên cao xuống.

Động là điểm dừng chân lý tưởng trong hành trình khám phá dọc sông Chảy. Đây là một quần thể gồm ba hang động, mỗi hang lại có vẻ đẹp riêng biệt. Động Cốc Ly là cả một thế giới của thạch nhũ muôn hình vạn dạng treo mình lộn ngược và bị che kín bởi bức rèm bằng dây leo ngoài cửa hang.
< Lúc lại như tòa sen hướng lên trên, thật ngoạn mục.
< Những hang rêu phong mời gọi bước chân người khám phá.

Động giống như một mê cung kỳ vĩ được thiên nhiên tác tạo, nhũ đá mang dáng dấp của tháp cổ to nhỏ kết hợp với những luồng sáng hiếm hoi hắt vào khiến không gian bên trong thêm huyền ảo. Động này còn là nơi trú ngụ của các loài dơi núi.


Du lịch, GO! - Theo DatViet

Thứ Bảy, 2 tháng 7, 2011

Thác Bản Giốc, động Ngườm Ngao xưa và nay...

Thời kháng chiến chống Pháp, 6-7 năm (1948-1953) gia đình tôi từ thị trấn Trùng Khánh (Cao Bằng) tản cư đến ở bản (làng) Pò Mười (trước là xã Quang Thành, nay là xã Chí Viễn) rồi Pò Tấu (xã Chí Viễn). Nhà chỉ cách thác Bản Giốc (xã Đàm Thủy) 10-12 cây số. 
Ba năm ở Pò Tấu, phiên chợ nào cha mẹ tôi cũng có mặt ở chợ Bản Giốc, người cắt tóc, người bán hàng xén.
Chợ Bằng Ca (huyện Hạ Lang) đi quá Bản Giốc 10 cây số về phia Bắc, thế mà cha mẹ tôi và mấy người Kinh cùng tản cư như ông Mộc, cậu Quý cũng không bỏ phiên chợ nào. Mờ sáng đã đi, đêm khuya mới về đến nhà. Rất vất vả mà nhà ai cũng vẫn đói rách.

Đến năm tôi học lớp 5 (phổ thông 9 năm) Trường cấp II Trùng Khánh (1954) mới được nhà trường tổ chức đi tham quan thác Bản Giốc và Ngườm Ngao (tiếng Tày cổ gọi là hang hổ). Mọi người cơm đùm cơm nắm đi bộ từ Trường cấp II Bản Đà theo tỉnh lộ 206, vừa đi vừa đùa nghịch, đến chợ Pò Tấu thì đã xế trưa.
.
< Thác Bản Giốc, Trùng Khánh phủ, Cao Bằng thời Pháp thuộc.

Chúng tôi nghỉ ngơi ăn cơm dưới những cây long não cổ thụ, ăn xong ra cuối chợ đứng ngắm cảnh đẹp của Thoong Gọot (thoong tiếng Tày là thác - thác Gọot) cách chừng non cây số, rồi lại đi tiếp.

Thoong Gọot nằm trên sông Quây Sơn, con sông bắt nguồn từ Trung Quốc qua cửa khẩu Pò Peo (xã Ngọc Khê) - nơi có cá trầm hương thơm ngon - sang xã Đình Phong, qua xã Chí Viễn - nơi có nhiều hạt dẻ Trùng Khánh nổi tiếng - rồi đến xã Đàm Thủy - nơi có thác Bản Giốc và Ngườm Ngao đẹp kỳ diệu.

< Thác Bản Giốc - phần thác chính phía Việt Nam chỉ có con thuyền nhỏ bỏ trống, không có khách du lịch, tôi bảo hai cháu gái tôi ngồi lên chụp ảnh, năm 1997.

Dòng sông Quây Sơn có nhiều đoạn chảy men theo đường tỉnh lộ, chúng tôi vừa đi vừa ngắm những chiếc “cọn” quay kẽo kẹt đưa từng chuỗi “bẳng” chứa đầy nước từ dưới sông đổ lên mương dẫn đến những thửa ruộng ở trên cao. Những chiếc cối giã gạo phần chân có cải tiến khoét hố chứa nước, ở giữa có chốt bập bênh, dùng trọng lượng nước thay cho chân người dẫm, nhịp chày đều đều lên xuống nghe thình thịch, êm tai và đẹp mắt.

< Thác Bản Giốc - phần thác chính phía Trung Quốc, khách du lịch Trung Quốc khá đông, họ làm những chiếc mảng to đưa khách ra giữa sông ngám cảnh, năm 1997.

Dòng sông có khúc mở rộng đến vài trăm mét, ở giữa nổi lô nhô những gò đá, trông như hòn đảo, xa xa là những khóm tre xen trong nếp nhà sàn, khói bếp hòa vào sương núi trông cảnh sắc thơ mộng hữu tình. Dòng sông chảy qua chân núi Cô Muông, qua các cánh đồng, bãi ngô, xòe ra thành nhiều nhánh, đột ngột hạ thấp xuống khoảng 35 m, tạo thành thác Bản Giốc. Phía Bắc tháp gồm ba cấp dài, nguồn nước nhiều, rất đẹp còn gọi là thác chính. Thác phụ ở phía Nam, chỉ có một cấp cao. Khi chiêm ngưỡng không có sự tách bạch nên toàn thể thác Bản Giốc có cao có thấp rất hài hòa với rong rêu, cây cối, núi non chung quanh nên cảnh sắc đẹp tuyệt vời. Nhìn tổng thể hay nhìn chi tiết từng phần thác đều rất đẹp.

< Sông Quây Sơn, Trùng Khánh phủ, Cao Bằng thời Pháp thuộc.

Chúng tôi đến Bản Giốc, ngày ấy chỉ có hơn chục nóc nhà. Không như phố Trùng Khánh hay chợ Pò Tấu người dân đều xây dựng nhà đất để ở. Nhà xếp thành dãy ôm lấy cái chợ ở giữa. Ở đây vẫn là những nếp nhà sàn, trâu bò lợn gà nhốt ở dưới, người ở trên sàn, sống quây quần như các bản chung quanh. Chợ tách riêng ra ở bãi đất trống gần đó.

Sau khi đã ổn định các lớp vào ở nhờ nhà dân, chúng tôi ra ngoài ruộng ngắm cảnh sông núi. Từ đây nhìn ra thác chỉ thấy màn hơi nước bốc cao trắng xóa ở chân núi và tiếng thác gầm reo đến rộn ràng.

Sáng hôm sau, toàn trường xuống vạt đất bằng phẳng dưới chân thác cắm trại. Các anh lớn tuổi chặt cây dựng lều căng những tấm vỏ chăn làm mái xếp theo hàng đều tăm tắp. Chúng tôi được tắm thỏa thuê. Mấy anh bơi giỏi sang cả bờ bên kia sông, ở đấy chỉ có cây cối mọc hoang và nương rẫy, rất vắng người. Thỉnh thoảng mới thấy người làm nương chống mảng quay về bản phía bên này sông. Có lẽ chúng tôi là lớp người đầu tiên cắm trại ở bên dòng thác đẹp tuyệt vời nhất nước này.

< Thác Bản Giốc, Trùng Khánh phủ, Cao Bằng thời Pháp thuộc.

Thầy Nguyễn Ngọc Văn ra đề toán đố học sinh các lớp làm sao đứng bên này mà đo được chiều rộng sông. Nguyễn Như Mai tuy bé nhất lớp, song rất thông minh, xung phong giải theo hình tam giác, được thầy đồng ý và cho cả lớp thực hành. Được các thầy khen, giải thưởng là những dò phong lan kếch sù hái từ những cây vối bên bờ sông, trông rất đẹp, cả trường vỗ tay reo hò.

Hoàng Văn Xuân, Hiệu đoàn trưởng còn tổ chức cướp cờ. Cắm một lá cờ ở trên một cành cây cao ở bên kia sông, sau một hồi còi, các lớp cử người thi nhau bơi sang sông, rồi luồn qua các bụi rậm, tảng đá để đến với gốc cây to có lá cờ đỏ, lớp nào trèo lên cây lấy được cờ thì thầy giáo thưởng. Lớp tôi tuy là lớp dưới, nhưng có nhiều anh lớn bơi lội và leo trèo rất giỏi nên đã sớm chiếm được cờ, cả trường reo hò ầm vang khúc sông.

Ngày ấy, chúng tôi không có khái niệm bên kia sông là đất của người Trung Quốc, trên thực tế cũng không thấy bóng dáng người Trung Quốc nào, chỉ thấy người Tày vun sới ngô, nên cứ reo hò đùa nghịch thỏa thích. Buổi chiều chúng tôi tổ chức khám phá một hang động cách thác Bản Giốc chừng 3-4 cây số. Các thầy Nguyễn Thường Thịnh, Nguyễn Ngọc Văn, và các anh Hoàng Văn Xuân, Ngân Bá Kỷ và hai thanh niên trong bản đi trước dẫn đường. Thầy làm các ký hiệu dẫn đường bí mật để đi đến Ngườm Lồm (hang gió).
Thầy Vũ Trọng Nhậm đưa chúng tôi đi sau, vừa đi vừa tìm kiếm những ký hiệu và phỏng đoán để tìm đường vào hang động. Chúng tôi thấy tờ giấy chỉ đường báo còn cách cửa hang 20m, thế mà mà vẫn chưa tìm ra cửa vào hang. Nơi đây cây cối um tùm, vách đá dựng đứng, lá han mọc khắp nơi, chạm vào đau buốt vô cùng. Mấy anh lớn tuổi xung phong lên trước, tìm mãi mới thấy cửa hang rất nhỏ hẹp, ấn khuất sau những bụi giây rừng. Chúng tôi phải kéo nhau lên từng người một mới chui được vào cửa hang.

< Động Ngườm Ngao, cách thác Bản Giốc chừng 4-5 km, là một trong những hang động còn nguyên sơ đẹp nhất nước ta.

Ngoài trời nóng thế mà trong hang mát lạnh. Gió rít từng hồi. Đi được độ vài mét thì thấy hiện lên trước mắt một không gian cao rộng mênh mông, cả trường đứng lọt thỏm trong một góc hang. Các nhũ đá từ dưới mọc lên, từ trên buông xuống, hình thù đa dạng, muôn hình vạn trạng, màu sắc óng ánh, nhìn vào chỗ nào cũng rất đẹp.

Mỗi chúng tôi tha hồ mà tưởng tượng hình thù các động vật, ai ai cũng suýt soa, mồm không ngớt thốt lên điệp khúc: Trời ơi, đẹp quá! Trời ơi, đẹp quá! Thầy Nhậm cho biết, đây là động đá vôi được hình thành cách ngày nay 300 triệu năm. Những nhũ đá ở trên vòm hang là do từng giọt nước kết tủa caco3 chảy qua đá vôi nhỏ xuống qua ngày này sang ngày khác, năm này sang năm khác mà thành. Măng đá ở trên nền hang, nước từ nhũ đá chảy xuống lâu ngày nên cao dần. Những nhũ đá gặp măng đá thành cột đá.

< Bản Pò Mười, nơi đây tôi đã sống trong những năm 1948-1951, ngày ấy mới có 6 ngôi nhà sàn và 1 nhà đất của gia đình tôi. Đêm giao thừa năm 1951 hổ đã nhảy vào chuồng bắt con lợn 50-60 kg của nhà tôi, sau đó gia đình tôi phải ra phố chợ Pò Tấu, cách xa hơn 1km, nhưng xa núi hơn.

Chúng tôi nói với nhau, thế thì lâu lắm, chắc từ ngày xửa ngày xưa những nhũ đá, cột đá đã to như thế này rồi. Ở trong hang có đoạn phải sắn quần lội bì bõm qua nước. Cả đoàn chỉ có vài ba chiếc đèn pin, còn toàn là đuốc, đi được một lúc thì đuốc thay nhau tắt do không đủ ôxy và do gió lùa từ đâu thổi tới mạnh quá, chắc chúng tôi chỉ đi được 100-200m là cùng. Khi ra chúng tôi phải điểm danh theo tổ theo lớp, phải nắm tay nhau cùng ra cửa hang, nếu để ai lạc thì rất khó tìm. Các cụ ở Bản Giốc cho biết: hang này dài rộng lắm, thông cả sang cửa Ngườm Ngao và cửa hang Bản Thuôn xa đến mấy cây số.

< Nơi đây tôi và các em đã sống trong những năm 1948-1951. Ngày ấy nhà cửa bằng gỗ, chưa được khang trang như bây giờ, năm 2007.

Có lẽ chúng tôi là những đoàn đông người khám phá hang động ở đây sớm nhất, chỉ sau người Pháp đã đến đây từ năm 1921. Sau đó chẳng mấy ai dám vào hang, vì khu vực này ngày ấy là tổ cọp. Trong thời gian chúng tôi đến tham quan thì hổ vẫn còn nhiều lắm. Buổi tối, đốt lửa trại, một chương trình văn nghệ đặc sắc của nhà trường được biểu diễn cho bà con các bản đến xem. Có lẽ đây là lần đầu tiên được xem văn nghệ nên bà con rủ nhau đến rất đông.

Mở đầu là những bài đồng ca, song ca, thầy Nhậm ngâm bài thơ “Đời đời nhơ ông” của Tố Hữu (ngày ấy ông Stalin mới qua đời nên dân ta thương cảm lắm), tiếp đến múa điệu: “Dân Liên Xô, vui hát trên đồng hoang, đây bao la, muôn sắc hoa chan hòa,…” Trương Nguyệt Minh, Lê Hồng Khê,… phải lấy vỏ chăn hoa cuốn làm váy, được cái vốn đã xinh nay thêm chút mực đỏ làm môi son má hồng trông dưới ánh lửa bập bùng càng rực rỡ.

< Trên đường đến thác Bản Giốc - Cọn nước bên dòng sông Quây Sơn, 2007.

Hoạt cảnh đoàn thanh niên dân chủ thế giới đến thăm thác Bản Giốc rất vui. Mấy anh cao to được bôi mặt mũi chân tay người trắng hếu, mũi lõ; người đen xì, người da đỏ, da nâu, da vàng… đóng giả người châu Âu, châu Phi trông rất giống. Mỗi người đứng ra nói xì xà xì xồ, xong mỗi câu tiếp đến phiên dịch bằng tiếng Tày, ca ngợi cảnh đẹp thác Bản Giốc hết lời, ai cũng phải buồn cười. Ngẫm lại, từ mấy chục năm trước, thầy trò chúng tôi đã có đầu óc làm du lịch ở đây rồi. Đến thế kỷ XXI ngành du lịch tỉnh Cao Bằng đến nay mới bắt đầu khai thác du lịch thì quá chậm chạp! Giá như ngay năm 1954, ta xây dựng một khu du lịch cả hai bờ chân thác Bản Giốc thì ngày nay thác đã nằm trọn vẹn ở nước ta như thuở ấy rồi! Lớp chúng tôi được thầy Nhậm hướng dẫn diễn vở hoạt cảnh giữ vệ sinh diệt chấy, rận, rệp, muỗi.

< Dòng sông Quây Sơn, 2007.

Tôi được đóng vai con muỗi, lấy màn trắng làm đôi cánh, đầu đội chiếc vành có vòi dài như vòi voi, đôi con mắt tròn xoe đen xì. Trần Xuân Sơn khoác chiếc áo tơi đan bằng mo đóng vai con rệp,…con vật nào cũng ra oai, tỏ ra độc ác nguy hiểm. Nhưng đến khi dàn đồng ca kể tội với điệp khúc: “Này con rệp, mày bỏ mạng mày thôi, mày thôi. Kìa con muỗi, bay trốn đi đâu, trốn đi đâu mà chạy. Mày bỏ mạng mày thôi, mày thôi.” Thì bọn tôi co rúm chạy tứ tung.

Buổi văn nghệ gây được ấn tượng mạnh đối với bà con dân tộc các bản. Năm 1972, máy bay Mỹ chưa bắn phá tới Cao Bằng nên tôi đưa vợ con lên thị trấn Trùng Khánh sơ tán. Ít tháng sau tôi đưa bố, anh và em vợ lên thăm gia đình. Nhân dịp này tôi và chú Đạt (em rể) đưa bố vợ và anh em nhà vợ đi thăm thác Bản Giốc. Đi bằng xe đạp, sáng đi chiều về. Nước cạn nên buổi trưa tắm sông thỏa thích. Hôm ấy, nhìn sang phía bên kia sông còn heo hút lắm, xung quanh thác Bản Giốc vẫn không có ai ngoài gia đình chúng tôi.

< Nhìn toàn cảnh thác Bản Giốc từ tỉnh lộ 206, năm 2007.

Năm 1997, nhân kỷ niệm 50 năm gia đình tôi sống ở bản Pò Mười, tôi đã cùng nghệ sĩ nhiếp ảnh Hà Tường đến Pò Mười ngủ một đêm. Sáng hôm sau chụp cảnh bừa ruộng tập thể. Cháu Đoàn Cảnh Tuân đưa chúng tôi đi chụp ảnh sông Quây Sơn và thác Bản Giốc bằng xe ô tô cơ quan. Ngày ấy phía Việt Nam chỉ có lèo tèo một ngôi nhà tranh vách đất ở đầu dốc xuống thác, đó là đồn biên phòng. Bên kia sông Quây Sơn, Trung Quốc đã xây một khu du lịch, nhà cao 2-3 tầng, có chòi ngắm cảnh, làm đường ra thác tham quan và vài ba chiếc mảng chở khách ra giữa sông ngắm cảnh.

< Năm 1997, tôi đã thấy Trung Quốc xây dựng một khu nhà nghỉ ở bên kia sông, ảnh năm 2007.

Năm 2007, vợ chồng tôi, hai cô em gái, chú em út của tôi và vợ chồng anh vợ và các cháu lại lên thăm Pò Mười, nơi 60 năm trước mấy anh em chúng tôi đã lớn lên ở đây.

Sau đó thăm thác Bản Giốc và Ngườm Ngao. Phía bên kia sông nhộn nhịp với những mảng ngắm cảnh, người đông nườm nượp. Còn bên này sông vắng teo.

< Thác Bản Giốc - phần thác phụ của Việt Nam, năm 2007.

Đồn biên phòng được xây dựng lại, tuy vẫn là nhà một tầng, nhưng đã là tường xây mái ngói với chiếc sân rộng rãi, có cả chậu hoa. Cơ sở du lịch vẫn chưa có gì. Mấy chiếc cầu gỗ xiêu vẹo do dân tự làm, không được an toàn nếu nước lớn. Dưới bãi sông có mấy túp lều dựng lên không theo hàng lối, toàn bày hàng lặt vặt của địa phương Trung Quốc. Mấy chiếc mảng của ta do dân địa phương tự làm nên sơ sài và không đẹp như mảng phía bên kia, hấp dẫn và đúng chất du lịch. Những mảng này chỉ đi lại ở giữa sông, chứ không được sang bên bờ sông của nước bạn. Nghe nói hai năm gần đây vừa cắm mốc biên giới ở ngay giữa thác chính?

< Cầu vào thác còn sơ sài tạm bợ chưa an toàn, chưa đáp ứng với yêu cầu du lịch, năm 2007.

Ngườm Ngao đã khai thác dịch vụ du lịch. Trong hang đã có điện sáng. Có lẽ muốn chiêm ngưỡng vẻ đẹp tự nhiên thì nên sớm đến thăm. Tôi thấy bàn tay con người đã bắt đầu làm khô cứng nhiều nơi, nhất là những lối đi đã thấy vết đập phá, bậc xi măng xây phẳng phiu, láng phằng lì làm mất đi những sóng đá nhấp nhô rất nên thơ. Ngườm Ngao là rừng nghệ thuật, mọi tác động của con người phải từ bàn tay khéo léo của nghệ nhân, đôi mắt nhìn tinh túy của nghệ sĩ.

Chiêm ngưỡng thác Bản Giốc, động Ngườm Ngao ở Cao Bằng
Thăm Thác Bản Giốc


Ngườm Ngao là tài sản vô giá. Thiên nhiên đã ưu đãi ban tặng cho Cao Bằng một không gian thần tiên, đa dạng về hình dáng, phong phú về màu sắc, đẹp cực kỳ từng cm. Tôi rất ngại, nếu không biết giữ gìn và tôn trọng thiên nhiên thì số phận của nó không sớm thì muộn sẽ giống như các hang động ở vịnh Hạ Long, đồ dởm bằng xi măng tràn lan ở khắp nơi. Màu sắc bịa đặt. Thật giả lẫn lộn. Tự đánh mất tài sản quý giá của mình.

Bây giờ người ta đang dựa vào những hình thù tự nhiên dựng nên những câu chuyện huyền hoặc, huyền thoại, thần thánh tiên bụt hóa làm cho nhiều người mê hoặc. Đừng thêu dệt những chuyện nhảm nhí vào thiên nhiên, bản thân giá trị của nó đã quá đẹp rồi. Điều đáng ngại là quanh khu du lịch Ngườm Ngao thấy bán rất nhiều nhũ đá, măng đá. Nếu Không ngăn cấm thì chẳng bao lâu những nhũ đá Ngườm Ngao sẽ bị rời đến các dinh thự, nhà hàng khắp nơi, kể cả ở nước ngoài.

Du lịch, GO! - Theo blog Kiến Trúc Việt - Đoàn Đức Thành