Hiển thị các bài đăng có nhãn Núi. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Núi. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 29 tháng 7, 2011

Tắm suối Khuổi Tẳng

Từ đỉnh Mẫu Sơn (xã Mẫu Sơn, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn) cao 1.541m quanh năm mây phủ có con suối Khuổi Tẳng, tiếng địa phương mang nghĩa dòng suối dựng đứng.

Xuất phát từ xã Bằng Khánh (Lộc Bình – Lạng Sơn) qua những con đường nhựa rồi bêtông quanh co với những cánh đồng lúa xanh mượt, du khách sẽ bắt đầu cuộc hành trình khám phá dòng suối đầy thơ mộng này. Vừa đi du khách có thể nghe tiếng nước chảy róc rách, tiếng chim rừng kêu ríu rít... ở hai bên bờ suối.

Nếu đến đây vào đầu mùa hè, du khách được chiêm ngưỡng dưới lòng suối là những tảng đá lúc phơi mình trên không, lúc ẩn mình trong làn nước trong veo. Cảnh tượng trên trời, dưới suối, hai bên bờ sắc tím hoa sim, hay vàng, đỏ của phong lan rừng...

Đến suối Khuổi Tẳng du khách nên ghé thăm những ngôi nhà của người Dao náu mình dưới tán cây xanh và nếu gặp may, du khách sẽ nghe cư dân nơi đây kể về truyền thuyết của dòng suối này. Chuyện xưa, các tiên nữ khi cưỡi mây dạo chơi bỗng nhìn thấy suối Khuổi Tẳng trong mát nên rủ nhau xuống tắm.

Các tiên nữ còn hoá phép tạo ra những tảng đá to, phẳng để nghỉ ngơi mà ngày nay người dân nơi đây gọi là Soong Cải. Nơi đây những ngọn thác đổ dài theo vách đá, vẽ vào không gian bức tranh thiên nhiên đẹp lạ kỳ.

Càng lên cao, không gian suối Khuổi Tẳng cứ mở ra, mở ra đẹp một cách kỳ lạ. Những dòng thác nhỏ đổ xuống hang, hốc tạo thành hồ nước tự nhiên có độ sâu vừa phải, nơi tắm mát lý tưởng cho du khách.

Ngày hè nóng bức, được ngâm mình trong dòng nước mát lạnh của suối Khuổi Tẳng tạo cảm giác thư thái, an bình. Nếu được đầu tư đúng mức thì trong tương lai không xa, nơi đây sẽ là một địa chỉ hấp dẫn, bởi danh thắng này nằm song song với khu du lịch Mẫu Sơn.

Du lịch, GO! - Theo SGTT, internet

Tuyệt tác núi lửa trên đảo Lý Sơn

Những khối nham thạch đa dạng, một miệng núi hình lòng chảo rộng mênh mông, chung quanh là triền dốc cao thoai thoải tựa đấu trường khổng lổ thời La Mã... là vết tích núi lửa để lại trên đảo Lý Sơn ngày nay. 

< Miệng núi lửa trên đỉnh Giếng Tiên, tựa đấu trường khổng lổ thời La Mã.

Từ cảng Sa Kỳ - Quảng Ngãi, sau gần một giờ đồng hồ vượt biển, chúng tôi đặt chân tới Lý Sơn. Núi cao sừng sững, xóm làng yên tỉnh bên bờ biển trong xanh, lặng nhìn thấy đáy và những cơn gió mát lạnh thổi lên từng hồi đã làm dịu bớt sự oi bức của nắng hè.

< Tượng phật Bà dưới chân núi Giếng Tiên, thắng cảnh bậc nhất ở Lý Sơn.

Xa xưa, Lý Sơn là điểm tập kết của những trai tráng khỏe mạnh ở khắp mọi  nơi theo lệnh các triều đại phong kiến nhà Nguyễn hàng năm lập đội quân Hoàng Sa gồm 70 xuất.
Cứ tháng 2 âm lịch, đội quân nhận lệnh ra tận Hoàng Sa, Trường Sa canh giữ, đồng thời khai thác hải vật mang về nộp cho triều đình. Dần dần mới lấy người An Vĩnh, An Hải sung vào làm lực lượng chủ lực.

< Bình minh trên đảo Lý Sơn nhìn từ đỉnh núi Thới Lới.

Vào ngày xuất binh, mỗi người lính - ngoài trang bị vũ khí, lương thực - còn được làng xã, người thân sắm 2 chiếc chiếu, 7 sợi dây mây, 7 thanh tre và một thẻ bài ghi tên tuổi, quê hương, đơn vị... để hàng ngày sử dụng trải nằm nghỉ ngơi. Nếu chẳng may chết vì ốm bệnh, đói lạnh, thì dùng chiếu để bó chôn. Mà khi đã ra đi thì hầu hết đều bỏ mình, nên hàng năm vào ngày 20 tháng 2 âm lịch, làng xã tiến hành lễ cúng (Khao Lề) thế lính Hoàng Sa.

< Cổng trời hình thành từ dòng nham thạch trong núi lửa tuôn trào và được mài giũa bởi gió, biển theo thời gian năm tháng.


Hoàng Sa lắm đảo nhiều cồn.
Chiếc chiếu bó tròn mấy sợi dây mây.


Theo trục đường xuyên đảo về phía Tây, chúng tôi đến tượng Phật Bà Chùa Đục dưới chân núi Giếng Tiền, leo tiếp 200 bậc thang thì tới đỉnh núi lửa đã tắt lâu năm. Cho đến tận bây giờ không tài liệu nào cho biết thời kỳ núi lửa hoạt động. Song, vết tích chưa kịp phân hủy của nó đã để lại kết quả rất ngoạn mục: những khối nham thạch mang nhiều hình dạng, một miệng núi hình lòng chảo rộng mênh mông, chung quanh là triền dốc cao thoai thoải tựa đấu trường khổng lổ thời La Mã.

< Một góc đảo Bé.

Thời khắc bình minh trên Lý Sơn là cảnh đẹp tráng lệ, đầy sức hấp dẫn. Tuy nhiên, muốn chiêm ngưỡng mặt trời xuất hiện đúng lúc ở biển Đông phải mất nhiều công sức. Chúng tôi phải rời thị trấn lúc 4 giờ 30 sáng, rồi cưỡi xe máy vượt nhiều con dốc dài dựng đứng để lên đỉnh núi Thới Lới, vừa kịp mặt trời như khối cầu lửa trồi từ từ lên khỏi mặt biển, lan tỏa sắc màu đỏ càng lúc càng rạng rỡ.

< Bãi Hang, một trong những bãi tắm trên đảo Bé còn đậm nét hoang dã.

Đặc biệt, núi Thới Lới có 2 miệng núi lửa rộng lớn và chung quanh nó hiện vẫn còn tồn tại nhiều tảng đá lớn nhỏ nằm ngổn ngang do núi lửa phun trào xưa kia.

Cùng với núi đảo, Lý Sơn còn nổi tiếng  bởi những công trình nghệ thuật kiến trúc độc đáo đã được công nhận di tích quốc gia như Âm Linh Tự và mộ lính Hoàng Sa được xây dựng thế kỷ XVII, là nơi thờ tự đội hùng binh Hoàng Sa; cụm di tích Đình Làng An Hải xây dựng năm Minh Mạng nguyên niên (1820) - một công trình kiến trúc lâu đời nhất còn được giữ gìn trên đảo; di tích Chùa Hang dưới chân núi Thới Lới được con người tạo nên cách đây 400 năm, bằng chứng cụ thể về quá trình khai phá và xây dựng đảo của người Đại Việt.

< Bãi Hang trên đảo Bé cảnh vật thật tuyệt vời.

Ngày cuối cùng, tôi theo thuyền chợ qua đảo Bé thuộc xã An Bình, cách 7 km về hướng Bắc. Khác với Lý Sơn, địa hình núi non dàn trãi đan xen vùng đồng bằng còn đảo Bé toàn là đồi thấp nên không thể có mạch nước ngầm.
< Ruộng bậc thang trồng tỏi trên đảo bé gợi nhớ ruộng bậc thang trên Tây Bắc.

Con đường xuyên đảo dẫn ra những bãi tắm cuối thôn xóm cho chúng tôi một góc nhìn hoàn toàn khác về đảo Bé. Vùng đất khô hạn này lại nằm lọt thỏm giữa những rặng dừa xanh muớt, chốc chốc theo gió đong đưa trong buổi trưa hè rực nắng đã khiến khách phương xa không tránh khỏi ngẩn ngơ, rung động.

< Chiều về, thủy triều xuống. Sau khi lượm ốc, bắt nhum trên bãi cạn trẻ em giúp bố mẹ lấy muỗng vớt thịt và gạch con nhum để kịp sáng mai mang ra chợ bán.

Một thế giới ghềnh đá xù xì, đen bóng, được hình thành từ dòng nham thạch trong núi lửa tuôn trào rồi rắn lại giăng khắp bờ cát trắng tinh nằm thoai thoải như hòa lẫn với màu xanh của đại dương.
Còn trên biển mấy chiếc thuyền thúng đang quây lưới chặn bắt đàn cá cơm làm tung nước trắng xóa. Tất cả đã tạo lên bức tranh tuyệt tác vừa sinh động lại rất thanh bình, vừa hoành tráng lại quá lãng mạn mơ màng.

Du Lịch, GO! - Theo Vietnamnet

Thứ Năm, 28 tháng 7, 2011

Trên đỉnh Lũng Vân

i quá chợ Lồ một tí, quẹo trái tìm vào Địch Giáo là thấy con đèo cao, đường lên xứ tiên ấy". Người bạn ở Hoà Bình nhắn tin chỉ đường là vậy. Nhưng phải trở đầu, trở đuôi năm bảy lượt mới tìm thấy con đèo cao ngất mà người bản địa gọi là dốc Mùn.

Nằm ở độ cao hơn 1.200m so với mực nước biển, Lũng Vân (huyện Tân Lạc, Hòa Bình) được bao bọc bởi những ngọn núi Pó, núi Trâu, núi Tiên, sớm tối mây phủ trắng như trong xứ thần tiên huyền ảo.

Cái tên Lũng Vân hẳn còn xa lạ với nhiều người. Một phần bởi nó nằm sâu bên trục đường Hòa Bình - Mộc Châu, cánh dân "phượt" thường ít để ý. Đường tới Lũng Vân lại vô cùng hiểm trở với những đèo dốc liên tiếp dài 13km là thử thách trêu gan những người không ưa mạo hiểm. Bởi thế, cũng dễ hiểu khi ít người biết về Lũng Vân - thung lũng mây, còn được mệnh danh là nóc nhà của xứ Mường Bi.

Anh lái xe người xứ biển kỳ quan Hạ Long cứ xuýt xoa: "Đẹp quá, cứ như tiên cảnh ấy!". Mà đẹp thật, con đèo cứ uốn lượn trong mây trắng, bên dưới là những bản Mường ẩn hiện như trong tranh. Những con suối như lụa nhẹ nhàng trôi trong mây. Ở chợ Lồ oi nồng là thế, vậy mà lên dốc Mùn trời se lạnh như xứ ôn đới.

Lên đến đỉnh dốc ở độ cao nghìn mét, dưới chân đã là biển mây trắng ngần - xứ tiên có khác. Đó cũng là lý do để chúng tôi vác balô, bắt đầu hành trình chinh phục và khám phá nơi này dịp cuối tuần.

Khởi hành từ Hà Nội lúc 15g, 6 người chúng tôi với 3 xe máy nối đuôi nhau theo quốc lộ 6 đi Hòa Bình. Gần 3 giờ chạy xe, nhóm đặt chân đến địa phận Mường Khến, Tân Lạc. Tấm bảng chỉ dẫn đi Lũng Vân nằm bên rìa trái ngã ba đường.

Tên gọi xứ này là Lũng Vân (huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình), nhưng nếu gọi Thung Mây cũng không sai, bởi đều cùng có nghĩa là thung lũng mây trắng. Cái thung lũng kỳ diệu nằm ở độ cao hơn 1.200 mét được bao bọc bởi những ngọn núi Trâu, núi Pó, núi Tiên lung linh huyền ảo. Nhưng xứ này còn có một cái tên khác ít người biết, đó là Mường Chậm, một Mường xưa nằm giữa xứ Mường Bi - một trong bốn xứ Mường cổ xưa nhất với "nhất Bi, nhì Vang, tam Thàng, tứ Động".

Trời ngả về chiều, hoàng hôn ửng hồng đổ xuống những dãy núi cao. Ba chiếc xe liên tục vít ga qua những con dốc thẳng đứng, quanh co theo sườn núi. Chốc chốc, đi được một đoạn, cả bọn lại dừng xe chụp ảnh, ngắm nhìn những thửa ruộng bậc thang cùng nếp nhà sàn nhỏ xinh chìm trong màn sương chiều và núi rừng.

Gần 19g thì đặt chân đến xóm Bách. May mắn được trưởng văn hóa xã Hà Văn Tuấn chào đón với ấm trà từ lá cây rừng, một đặc sản của người Mường. Trong căn nhà sàn rộng, ánh điện tù mù, ông Tuấn lần lượt hỏi thăm và hồ hởi kể cho chúng tôi nghe đủ chuyện về Lũng Vân.

Vẫn mang đặc trưng của bản Mường ở giữa những thung lũng có nguồn sông, nguồn suối, nhưng cái làm nên nét riêng biệt của Lũng Vân là thung lũng nằm trên mây – có lẽ đây là xứ Mường cao nhất của những xứ Mường Hoà Bình. Truyền thuyết tạo nên xứ Mường trong mây là một câu chuyện buồn của một cuộc trốn chạy quan lang ngày xưa, nhưng với người địa phương thì đó là một xứ thần tiên mà những cư dân nơi này đa phần đều được ân hưởng "tuổi giời": "Cứ như tiên cảnh đấy anh ạ, lại không lo nghĩ, lo ăn, nên thọ lắm".

Lũng Vân chỉ có 400 bếp nhà sàn, nhưng các cụ được hưởng "tuổi giời" sống đến trăm tuổi thì có đến hàng chục cụ, còn tuổi "son son" 80, 90 thì không thể nhớ hết. Các cụ không sống tập trung ở bản nào, mà trải đều ra cả 12 bản làng trong thung lũng.

Chuyện thời tiết quanh năm không cần dùng quạt mà cứ 23g phải đem chăn bông ra đắp, chuyện về phiên chợ Lũng Vân chỉ họp vào thứ 3 hằng tuần, chuyện điện về xã cách đây 4-5 năm… Cuộc chuyện trò cứ nối tiếp và chỉ kết thúc khi màn đêm đã ken đặc và ai nấy đều cảm thấy lạnh buốt.

Sáng sớm hôm sau, được sự chỉ dẫn của trưởng văn hóa xã, chúng tôi bước vào hành trình mới: khám phá Bắc Sơn, nơi cao nhất ở thung lũng Tân Lạc vẫn còn nguyên sơ, địa hình hiểm trở. Quả thật, đường đến Bắc Sơn chỉ 7km nhưng có những khúc cua tay áo rợn người, dốc cao hun hút. 2km đường cuối cùng còn chưa được rải nhựa, lởm chởm đá tai mèo cùng đất cát.

Ấn tượng nhất ở đây là những thửa ruộng bậc thang đẹp không kém Sa Pa. Đứng trên con dốc cao còn thấy những áng mây trắng bồng bềnh trên những ngọn núi mà cứ ngỡ chỉ với thêm một sải tay sẽ chạm tới trời. Dừng chân ở bản cuối cùng của Bắc Sơn, chúng tôi còn bắt gặp những phụ nữ Mường đang gùi củi theo một hàng dài.

Trên lưng và đôi má còn ướt đẫm mồ hôi, các chị nở nụ cười tươi rói, nhiệt tình kể cho chúng tôi nghe cuộc sống khó khăn ở Bắc Sơn, chuyện gùi củi, gùi bắp nặng 20-50kg vẫn băng băng trên quãng đường rừng dài hàng chục kilômet, chuyện đi từ Bắc Sơn có thể sang đất Thanh Hóa, Mai Châu. Thỉnh thoảng, lũ trẻ con trong xóm lại xúm xít vây quanh, lạ lẫm nhìn và tạo dáng trước ống kính máy ảnh…

Buổi chiều ở Lũng Vân, cả nhóm tìm đến hai “địa chỉ văn hóa” được người dân mách bảo. Đó là thầy mo Bùi Văn Kình, 89 tuổi và Bùi Văn Tâm, 86 tuổi - hai người có công giữ “hồn” xứ Mường. Các cụ tuổi đều đã cao nhưng tinh thần còn mẫn tiệp, say sưa kể về những nghi lễ, vật dụng cúng mo Mường.

Nhờ câu chuyện của hai cụ mà mọi người có dịp hiểu thêm về tục cúng tang ma độc đáo của người Mường, càng trân trọng hơn những giá trị văn hóa trong pho sử thi “Đẻ đất, đẻ nước”… Và một điều bất ngờ nhất mà tôi được biết là cụ Kình từng rời thung lũng mây ngàn tham gia đoàn binh Tây Tiến trong bài thơ cùng tên của Quang Dũng.

Lũng Vân một sáng đẹp trời với gió mát và nắng nhẹ, để mặc cho xe tự bon bon xuống chân núi, cả bọn vẫn thổn thức khi chưa một lần “mắt thấy tai nghe” thung lũng mây như tên gọi. Chỉ đến khi xe đi được nửa quãng đường, từ dốc Mùn bỗng thấy rõ một thung lũng huyền ảo với những áng mây trắng chờn vờn trên khắp các đỉnh núi, bản làng...
Trong khoảnh khắc ấy, những hoài nghi về tên gọi thung lũng mây ngàn mới thật sự xua tan…

Du lịch, GO! - Tổng hợp từ TTO, Phunu info, internet

Thu về trên xứ Mường Tiên

Cách thị trấn Sapa 22 km, nơi chơi vơi vách núi thuộc xã Trung Chải - Sapa, Lào Cai được đồng bào quan niệm là đất thiêng và đặt tên là xứ Mường Tiên.

< Bản Mường Tiên trong bảng lảng mây bay.

Theo quan niệm dân gian, khoảng ruộng nằm giữa hai con suối chính là nơi các vị tiên xuống trần chơi cờ, còn ngã ba suối là nơi các nàng tiên xuống tắm. Theo truyền thuyết của người Mông, mỗi khi mưa xuống nắng lên, trong thung lũng xuất hiện cầu vồng là lúc các vị tiên trên trời hạ trần thưởng ngoạn vẻ đẹp của vùng đất này.
.
< Thung lũng Mường Tiên.

Mùa thu này ở Mường Tiên, ruộng bậc thang đang ngời xanh màu lúa bắt đầu ngậm đòng chạy từ chân núi lên tới tận đỉnh. Trời quang, những đám mây trắng bảng lảng trên những triền cao.
< Xuống đèo.
< Vê tròn tay lái.
< Đi giữa ngàn xanh và gió núi.
< Sóng núi Mường Tiên.
< Suối Mường Tiên được đồng bào đặt cái tên trìu mến là “Dòng suối dân ca”.
< Bất chợt hoa mua rừng hoang dại.
< Vượt “Cua ba tầng” lên Sapa.

Đất này còn gắn với con đèo cực kỳ hiểm trở có cái tên nôm là “Cua ba tầng” vắt ngược lên hình chữ Z, vòng cua gấp khúc tay áo, nguy hiểm hơn bất cứ con đèo nào trong cả nước. Các bác tài xế qua đây luôn phải mắt căng tay ghì, bởi chỉ sơ sểnh chút là hậu quả không lường hết được.

Du lịch, GO! - Theo VCTV

Thứ Tư, 27 tháng 7, 2011

Khám phá vẻ nguyên sơ non nước Hương Sơn

Những khoảng không gian cổ kính, trầm mặc và vẻ đẹp muôn màu của thiên nhiên Hương Sơn có dịp bộc lộ trong những ngày miền đất Phật vắng khách ghé thăm...

Hương Sơn là một quần thể những danh lam thắng cảnh và di tích nằm trên một dải núi chạy từ núi Hoàng Con trong dãy Hoàng Liên Sơn, vượt qua sông Đà, núi Ba Vì, qua Chương Mỹ xuống mãi Nho Quan - Ninh Bình.

Trong cụm danh thắng Hương Sơn, bên cạnh các cảnh đẹp thiên tạo như suối Yến, động Hương Tích, động Tiên Sơn, động Tuyết Quynh, suối Giải Oan... còn rất nhiều các công trình kiến trúc nghệ thuật do bàn tay con người, qua các thời kỳ tạo nên, và đã trở thành những di tích lịch sử rất có giá trị như đền Trình, chùa Thiên Trù, đền Cửa Võng, Hương Sơn Tự...
.
< Bến Yến những ngày này không còn cảnh trên bến dưới thuyền nhộn nhịp.

Quần thể di tích - danh thắng Hương Sơn (theo cách gọi dân gian là chùa Hương, thuộc xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, Hà Nội) thường được biết đến như một điểm hành hương và trẩy hội lớn nhất của cả nước với kỳ lễ hội kéo dài từ ngày 6 tháng Giêng tới trung tuần tháng 3 Âm lịch. Mỗi năm, lễ hội này thu hút hàng triệu Phật tử cùng du khách khắp bốn phương về tụ họp, tạo nên một bầu không khí náo nức, rộn ràng ít nơi nào có.

< Lác đác những con thuyền chở khách vào động Hương Tích thay cho cảnh những đoàn thuyền nối đuôi nhau rồng rắn.

Khác với khoảng thời gian lễ hội, vào những ngày thường Hương Sơn hiện ra với một dáng vẻ hoàn toàn trái ngược. Vào thời điểm này, du khách sẽ có cơ hội để cảm nhận sâu sắc hơn vẻ đẹp thanh bình của một miền đất Phật cổ kính, nguyên sơ…
< Trong sự vắng lặng, vẻ đẹp nguyên sơ của non nước Hương Sơn hiện ra...

Ngồi trên đò du khách được thả hồn vào phong cảnh thiên nhiên tuyệt vời sơn thuỷ hữu tình thoả sức ngắm những ngọn núi với những cái tên vô cùng dân dã như núi Con Voi, núi Lọng Cụp, rồi Mâm Xôi Con Gà, núi Đổi Chèo...
< Những khung cảnh thanh bình và thơ mộng khiến lóng người như trút bỏ mọi ưu tư trong đời thường.

Nhưng có lẽ thú vị nhất vẫn là được ngắm dòng suối trong có thể nhìn tới tận đáy với những vạt tóc tiên xanh mướt. Sau chừng độ non một giờ ngồi đò, du khách sẽ lên bến Thiên Trù bắt đầu lộ trình núi non trùng điệp. Từ bến Thiên Trù, có rất nhiều tuyến du lịch khác nhau như Thiên Trù - động Hương Tích, Thiên Trù - Hinh Bồng, Thiên Trù - Long Vân...

< Đường lên nhiều ngôi chùa trở nên heo hút, vắng  lặng.
< Khói hương không còn nghi ngút trên những ban thờ, lan tỏa trong ngóc ngách của các động đá.
< Thi thoảng lắm mới thấy bóng dáng của một người lữ hành trước chốn cửa thiền tĩnh lặng.

Cảnh Hương Sơn

Đệ nhất nam thiên ấy cảnh này,
Thuyền nan đón khách máy chèo lay.
Hai bên quả núi lồng hương suối,
Bốn mặt hoa ngàn rủ bóng cây.
Cửa Phật lơ thơ tầng đá dãy,
Chùa tiên bát ngát khói hương bay.
"Nam vô" tiếng dậy thưa trần tục,
Non nước Bồng Lai mới thấy đây!

của Bà Huyện Thanh Quan

< Dấu ấn của con người như chìm vào giữa sự vĩnh cửu của thiên nhiên.
< Những bậc đá rêu phủ xanh rì.

Từ bến Đục của suối Yến, trước khi đến Thiên Trù, Hương Tích, du khách phải qua đền Trình - Ngũ Nhạc thắp nén nhang với ý nghĩa trình lên thần linh lòng thành lễ Phật. Trở ra, du khách lại tiếp tục cuộc hành trình cùng con đò đi vào bến Thiên Trù. Dọc theo dòng suối Yến, hàng ngày là con đường đi về của người dân trong vùng, nhưng khi đến mùa lễ hội, đây lại là một tuyến du lịch tuyệt vời.
< Những cánh hoa đại không lo sợ bị những bước chân vô tình dẫm nát.
< Vắng bóng con người, vẻ đẹp muôn màu của thiên nhiên Hương Sơn cũng có dịp bộc lộ.
"Mùa không lễ hội" là khoảng thời gian để cảm nhận sâu sắc vẻ đẹp của Hương Sơn - một miền đất Phật cổ kính, nguyên sơ…

Tuy nhiên, tuyến mà nhiều khách du lịch thường đi và cũng là tuyến có nhiều cảnh quan kỳ thú nhất là bến Đục - Thiên Trù - Hương Tích. Theo tuyến này, du khách có thể lên thẳng động Hương Tích và chùa Hương Tích, sau đó quay ra đền Cửa Võng, chùa Giải Oan, động Tiên Sơn rồi động Đại Binh... Kết thúc tuyến này, nếu còn thời gian du khách sẽ tiếp tục đi Hinh Bồng rồi sang Vân Long...

Du lịch, GO! - Tổng hợp từ Wikisource, DatViet, Dulichvtv...

Thứ Hai, 25 tháng 7, 2011

Chợ trên đỉnh núi

Những chiếc xe jeep chuyên dụng chạy vòng vèo từ chân núi lên đỉnh Lang Biang liên tục. Chưa bao giờ đến Đà Lạt tôi lại thấy người, xe đông nghẹt ở bãi xe chờ lên đỉnh đông như vậy. Xe du lịch của các công ty lữ hành cứ đậu thành hàng, dài mãi ra. Mấy cậu hướng dẫn viên cầm cờ hiệu tíu tít chạy từ phòng vé ra bãi xe. Tiếng loa từ phòng máy vang ra từng chập, từng chập để điều khiển, bố trí lượt xe lên núi.
Chả bù mấy năm trước, khách lên núi còn thưa thớt lắm; nay đường đã mở rộng, xe lên thuận tiện, hai bên đường uốn lượn dưới ngàn thông hiện ra cứ đẹp như một giấc mơ, du khách bị quyến rũ là phải thôi.

Đến đỉnh Lang Biang, khi cả buồng phổi căng ra đón từng luồng khí mát lạnh, trong lành thì cả một không gian kì ảo lung linh hiện ra trước mắt. Từ trên độ cao trên hai nghìn mét so với mặt biển, trải dài bên dưới là sương mù, là những cụm rừng, là thảm cỏ xanh, đồi đất đỏ ngút ngàn hòa quyện vào nhau tạo nên một Lang Biang hùng vĩ, thơ mộng.
.
Bao nhiêu lần lên núi rồi mà sao trong tôi vẫn dậy lên những cảm xúc tinh khôi như lần đầu. Đứng tựa vào rào chắn, nhìn xuống bên dưới, hít từng hơi thở thật dài, thật sâu, nghe cái mát lạnh, ngây ngây của sương mù gió núi len vào phổi để cảm nhận đến tận cùng sự trong lành của trời đất, của luồng không khí xanh hiếm hoi có được, hỏi sao lòng không bay bổng lâng lâng?

Có lẽ vì vậy mà từ khi đường lên núi được mở ra đẹp đẽ, khang trang, số khách du lịch mỗi năm mỗi đông đúc hơn chăng?

Thú vị của đỉnh Lang Biang đâu chỉ là cảnh quan, là không gian thoáng đãng đầy hấp dẫn khách nhàn du. Nếu câu chuyện tình yêu đẹp đẽ bi thương của đôi tình nhân Lang Biang một thời còn in dấu trên hai pho tượng đứng bên nhau tại chốn thơ mộng này vẫn còn gợi lên bao cảm hoài thì phiên chợ đầy sắc màu rực rỡ của đồng bào các dân tộc nơi đây lại có sức cuốn hút mãnh liệt với người lên núi. Thử đảo một vòng xem.

Bao sắc màu rực rỡ của những sản phẩm từ bàn tay người tộc Chil, tộc Lạt sống dưới chân núi bày ra trước mắt. Những chiếc gùi đan lát công phu, những túi xách, bóp cầm tay lớn nhỏ đủ kiểu, những chiếc hộp đựng nữ trang, đồ trang điểm tinh xảo, mấy chiếc dây thổ cẩm làm vòng thắt trên tay. Và, một chiếc chiếu trải trên mặt đất, một chiếc dù che bên trên cho các gian hàng. Vậy là phiên chợ trên núi đã nhộn nhịp, tưng bừng vào mùa du lịch này rồi.

Tôi dừng bước ở chiếu hàng của một cô bé khoảng hơn mười tuổi đang cắm cúi đan sợi dây thổ cầm trên chiếc khung dài bằng cây đơn sơ. Mấy bạn đi chung đoàn cũng ngừng lại, nhìn say mê bàn tay thoăn thoắt của cô bé. Hỏi: Con mấy tuổi mà ngồi bán một mình vậy?
- Con 11 tuổi.
- Mấy thứ này ai làm cho con bán?
- Ba mẹ và mấy anh chị con làm.
-Mùa này con bán khá không? Ngày được bao nhiêu?
- Ngày bán được, ngày không. Hôm nào được nhiều từ ba đến năm trăm ngàn.

Ngồi trì bên cô bé mới biết tên bé là Jan, người Cơ Ho, bộ tộc Chil nhà ở chân núi, có năm anh em. Từ ba mẹ đến các anh chị đều dệt, đan mấy đồ thổ cẩm này từ tơ sợi mua ở chợ Đà Lạt. Jan thứ Út, năm nay vào lớp 6 trường Trung học cơ sở xã Lát tại đây.

Nhìn vẻ lam lũ có nét già trước tuổi của cô bé người Chil rồi nhìn vẻ mặt hồn nhiên của mấy cô bé cùng tuổi Jan trong khung hình chụp cho các bé đột nhiên tôi thấy chạnh lòng. Những ngày nghỉ hè này với các bé kia thì là một chuyến du lịch thú vị, vui vẻ bên cha mẹ, còn với bé Jan thì… nắng gió, giá buốt ngày ngày trên đỉnh cao hơn hai ngàn thước, phơi mình từ sáng đến chiều phụ bán hàng cho gia đình. Lại nghĩ về con đường lên núi, xuống núi bằng đôi chân gầy guộc của cô bé mà bùi ngùi. Đúng là vẫn còn biết bao trẻ thơ trên đất nước này cùng tuổi mà không cùng phận như thế!

Dù sao, sáng nay chắc bé gặp hên nên nhiều người trong đoàn đã mua một số đồ thổ cẩm của Jan. Mấy chiếc túi xách, vài cái bóp nhỏ đựng điện thoại, đựng tiền, mấy sợi thổ cẩm đeo tay… Chưa hết, có bạn trong đoàn còn hứng chí ngồi bệt xuống chiếu giành lấy khung dệt đòi học dệt dây thổ cẩm khiến cả đoàn cười ngất.Nhìn những gian hàng trên đất nối tiếp nhau với những sản phẩm quen thuộc đan dệt từ những sợi tơ óng ánh sắc màu bên những bàn chân trần, những gương mặt đen sạm sùm sụp trong khăn trùm và chiếc nón vải mới nhận ra cuộc sống của các dân tộc vốn là chủ nhân vùng đất này vẫn còn nghèo khổ, nhọc nhằn biết mấy.

Những phiên chợ trên đỉnh núi cao trong những mùa du lịch dù góp thêm sắc màu rực rỡ phong phú cho sự thưởng ngoạn của bao khách tham quan nhưng đời sống của cư dân đất này liệu có khá hơn? Và nhiều cô bé trạc tuổi Jan đang ngồi bán hàng trên núi đây không biết sẽ đến trường tới lúc nào?

Theo xe trở xuống, Anh tài xế tên Hoàng, một người vui chuyện đã kể thêm vài điều về các bộ tộc thuộc dân tộc Cơ Ho tỉnh Lâm Đồng và chỉ cho tôi xóm nhà ở của bộ tộc Chil, bộ tộc Lạt phía bên phải con đường dưới chân núi. Trong khoảng xanh của những đồi cỏ, dãy nhà có màu đỏ, xám thấp thoáng trong nắng. Tôi lại nghĩ về cô bé Jan và khu chợ trên đỉnh núi, thầm mong một ngày gặp lại.

Du lịch, GO! - Theo Nguyễn Ngọc Tuyết / TBKTSG

Thứ Bảy, 23 tháng 7, 2011

Núi Mò O – Một thắng cảnh đẹp ở Bình Định

Nằm ở địa phận thôn Lý Tây và Nhơn Thuận xã Nhơn Thành, huyện An Nhơn, sườn phía bắc thuộc thôn Chánh Mẫn xã Cát Nhơn (Phù Cát), núi Mò O lọt thỏm giữa bốn bề ruộng đồng bát ngát. Núi có các tên gọi: Mò O, Ma-ha, Thiên Bút, Mạ Thiên Sơn, Tiên Tỉnh Sơn. Sách Đại Nam Nhất Thống Chí còn chép là Mô Ô, có lẽ do phiên âm tiếng Mò O ra chữ Hán mà thành.

Đi dọc quốc lộ 1, đoạn Phù Cát-An Nhơn hay tuyến đường Đập Đá-Nhơn Hạnh, Chợ Gồm-Cát Tiến, hay Gò Găng-An Lợi, du khách đều có thể chiêm ngưỡng vẻ đẹp của núi từ xa với mỗi hướng là một hình thù khác biệt. Hòn Mò O không cao (345 thước) nằm giữa quận An Nhơn (Phía nam) và Phù Cát (phía Bắc).

Có nhiều thầy địa bảo rằng: Hòn Mò O tiếp nhận đến hai sơn mạch. Một từ Kỳ Đồng xuống. Một từ Chà Rang chạy xuống đến đầu thôn Phú Thành (Phù Cát) qua các gò Tân Nghi, Bình Đức, Nghĩa Hòa… thì nhập với mạch Kỳ Đồng vào Mò O, thành "Lưỡng Long Nhập Thủ" - nghĩa là hai con rồng vào một cái đầu.

Và hòn Mò O là "Đình Tức Long", tức là con rồng dừng lại để thở, rồi chạy xuống bảy hòn núi đất ở Chánh Mẫn (Phù Cát) cách chừng ba cây số mới dừng lại.

Hòn Mò O, nửa đất sỏi, nửa đá dăm, đứng sừng sững giữa cánh đồng rộng. Hình thù cổ quái. Trên đỉnh có một lỗ thủng, ngoài tròn trong vuông, rộng chừng hai thước, sâu trên một thước. Dưới đáy toàn cát trắng. Người địa phương gọi là Giếng Tiên. Do đó núi mệnh danh là Tiên Tỉnh Sơn.

Trên miệng giếng có hai tảng đá hình tam giác cao lớn đứng song song che miệng giếng ở mặt Đông và mặt Tây. Xa trông giống lỗ miệng hả toạc hoạc mà đôi môi nhọn hoắt. Người Tây bảo "núi hả miệng mắng Trời". Vì vậy núi có tên nữa là Mạ Thiên Sơn.

< Chùa Thập Tháp.

Hình núi, đứng nơi chùa Thập Tháp ngó xuống thì thấy giống như lá buồm. Chùa lấy núi làm tiền án. Và đối với địa cuộc của chùa, núi chịu triều phục, nên dáng trông hiền lành, lễ độ. Nhưng nếu đứng ngoài vùng Phù Cát ngó vô thì thật ngạo nghễ, hung tợn.
Lưng chơm chởm đá dăm như lưng nhím, miệng mồm há hốc như con gấu heo toan vồ mồi. Nếu đứng hướng Đông nhìn lên thì là một ông Phật ngồi, hai đùi giãn, hai chân thòng, bụng phơi ra, mặt ngó xuống bảy hòn thổ sơn ở Chánh Mẫn (Phù Cát). Còn đứng lối Đập Đá trông ra, thì không hiền cũng không dữ, có thể ví với một con mãnh hổ nằm ngó mông.

Không ai hiểu vì sao núi lại mang tên Mò O, vì trên núi và quanh vùng không hề có khóm mò o nào cả. Trái lại ở sườn phía Đông và phía Nam có một thứ chè gọi là chè tóc tiên, hương vị rất đượm. Và thứ đá dăm ở sườn phía Bắc là thứ đá hoa thạch anh, hình lục giác, bát giác… trông óng ánh nhiều màu. Người ta bảo rằng đá chịu gió Bấc lâu đời sẽ thành ngọc kim cương. Nên thỉnh thoảng có khách đeo chiếc cẩm nang không đáy, đi vào núi."

Núi Mò O bây giờ không khác mấy so với những gì nhà thơ Quách Tấn miêu tả, chỉ khác là đường sá chạy dọc ngang các xóm làng quanh núi giờ đã được bê tông hóa, thuận tiện cho việc du sơn ngoạn thủy của du khách.

Du lịch, GO! Theo Bình Định Ngày Nay, ảnh internet