Hiển thị các bài đăng có nhãn Phong tục - Văn hóa VN. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phong tục - Văn hóa VN. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 27 tháng 7, 2011

Khám phá vẻ nguyên sơ non nước Hương Sơn

Những khoảng không gian cổ kính, trầm mặc và vẻ đẹp muôn màu của thiên nhiên Hương Sơn có dịp bộc lộ trong những ngày miền đất Phật vắng khách ghé thăm...

Hương Sơn là một quần thể những danh lam thắng cảnh và di tích nằm trên một dải núi chạy từ núi Hoàng Con trong dãy Hoàng Liên Sơn, vượt qua sông Đà, núi Ba Vì, qua Chương Mỹ xuống mãi Nho Quan - Ninh Bình.

Trong cụm danh thắng Hương Sơn, bên cạnh các cảnh đẹp thiên tạo như suối Yến, động Hương Tích, động Tiên Sơn, động Tuyết Quynh, suối Giải Oan... còn rất nhiều các công trình kiến trúc nghệ thuật do bàn tay con người, qua các thời kỳ tạo nên, và đã trở thành những di tích lịch sử rất có giá trị như đền Trình, chùa Thiên Trù, đền Cửa Võng, Hương Sơn Tự...
.
< Bến Yến những ngày này không còn cảnh trên bến dưới thuyền nhộn nhịp.

Quần thể di tích - danh thắng Hương Sơn (theo cách gọi dân gian là chùa Hương, thuộc xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, Hà Nội) thường được biết đến như một điểm hành hương và trẩy hội lớn nhất của cả nước với kỳ lễ hội kéo dài từ ngày 6 tháng Giêng tới trung tuần tháng 3 Âm lịch. Mỗi năm, lễ hội này thu hút hàng triệu Phật tử cùng du khách khắp bốn phương về tụ họp, tạo nên một bầu không khí náo nức, rộn ràng ít nơi nào có.

< Lác đác những con thuyền chở khách vào động Hương Tích thay cho cảnh những đoàn thuyền nối đuôi nhau rồng rắn.

Khác với khoảng thời gian lễ hội, vào những ngày thường Hương Sơn hiện ra với một dáng vẻ hoàn toàn trái ngược. Vào thời điểm này, du khách sẽ có cơ hội để cảm nhận sâu sắc hơn vẻ đẹp thanh bình của một miền đất Phật cổ kính, nguyên sơ…
< Trong sự vắng lặng, vẻ đẹp nguyên sơ của non nước Hương Sơn hiện ra...

Ngồi trên đò du khách được thả hồn vào phong cảnh thiên nhiên tuyệt vời sơn thuỷ hữu tình thoả sức ngắm những ngọn núi với những cái tên vô cùng dân dã như núi Con Voi, núi Lọng Cụp, rồi Mâm Xôi Con Gà, núi Đổi Chèo...
< Những khung cảnh thanh bình và thơ mộng khiến lóng người như trút bỏ mọi ưu tư trong đời thường.

Nhưng có lẽ thú vị nhất vẫn là được ngắm dòng suối trong có thể nhìn tới tận đáy với những vạt tóc tiên xanh mướt. Sau chừng độ non một giờ ngồi đò, du khách sẽ lên bến Thiên Trù bắt đầu lộ trình núi non trùng điệp. Từ bến Thiên Trù, có rất nhiều tuyến du lịch khác nhau như Thiên Trù - động Hương Tích, Thiên Trù - Hinh Bồng, Thiên Trù - Long Vân...

< Đường lên nhiều ngôi chùa trở nên heo hút, vắng  lặng.
< Khói hương không còn nghi ngút trên những ban thờ, lan tỏa trong ngóc ngách của các động đá.
< Thi thoảng lắm mới thấy bóng dáng của một người lữ hành trước chốn cửa thiền tĩnh lặng.

Cảnh Hương Sơn

Đệ nhất nam thiên ấy cảnh này,
Thuyền nan đón khách máy chèo lay.
Hai bên quả núi lồng hương suối,
Bốn mặt hoa ngàn rủ bóng cây.
Cửa Phật lơ thơ tầng đá dãy,
Chùa tiên bát ngát khói hương bay.
"Nam vô" tiếng dậy thưa trần tục,
Non nước Bồng Lai mới thấy đây!

của Bà Huyện Thanh Quan

< Dấu ấn của con người như chìm vào giữa sự vĩnh cửu của thiên nhiên.
< Những bậc đá rêu phủ xanh rì.

Từ bến Đục của suối Yến, trước khi đến Thiên Trù, Hương Tích, du khách phải qua đền Trình - Ngũ Nhạc thắp nén nhang với ý nghĩa trình lên thần linh lòng thành lễ Phật. Trở ra, du khách lại tiếp tục cuộc hành trình cùng con đò đi vào bến Thiên Trù. Dọc theo dòng suối Yến, hàng ngày là con đường đi về của người dân trong vùng, nhưng khi đến mùa lễ hội, đây lại là một tuyến du lịch tuyệt vời.
< Những cánh hoa đại không lo sợ bị những bước chân vô tình dẫm nát.
< Vắng bóng con người, vẻ đẹp muôn màu của thiên nhiên Hương Sơn cũng có dịp bộc lộ.
"Mùa không lễ hội" là khoảng thời gian để cảm nhận sâu sắc vẻ đẹp của Hương Sơn - một miền đất Phật cổ kính, nguyên sơ…

Tuy nhiên, tuyến mà nhiều khách du lịch thường đi và cũng là tuyến có nhiều cảnh quan kỳ thú nhất là bến Đục - Thiên Trù - Hương Tích. Theo tuyến này, du khách có thể lên thẳng động Hương Tích và chùa Hương Tích, sau đó quay ra đền Cửa Võng, chùa Giải Oan, động Tiên Sơn rồi động Đại Binh... Kết thúc tuyến này, nếu còn thời gian du khách sẽ tiếp tục đi Hinh Bồng rồi sang Vân Long...

Du lịch, GO! - Tổng hợp từ Wikisource, DatViet, Dulichvtv...

Thứ Ba, 26 tháng 7, 2011

Có một Huế ở Gò Công...

Nói đến Gò Công, người ta nhớ ngay đến vùng đất của cây sơ ri, nơi cất tiếng chào đời của hai bà hoàng triều Nguyễn: Từ Dũ (vợ vua Thiệu Trị) Và Nam Phương (vợ vua Bảo Đại).
Đây còn là vùng căn cứ kháng chiến chống Pháp của anh hùng dân tộc Trương Định. Vì vậy, du lịch về Gò Công, người ta không chỉ đi biển Tân Thành nằm nghe gió lộng và thưởng thức hải sản từ những quán ăn chạy dài theo các sân nghêu mà còn là dịp nhớ lại quá khứ hào hùng và chiêm ngưỡng một di tích... rất Huế.

Từ TP.HCM đi về Gò Công theo quốc lộ 50 là tiện nhất. Theo hướng này, bạn sẽ qua phà Mỹ Lợi. Vừa rời khỏi phà, bạn bắt đầu thấy trái sơ ri được bày bán rất nhiều hai bên đường. Gò Công có nhiều vườn trồng sơ ri, chỉ cần với tay là có thể hái những trái chín ửng hồng trong những khu vườn xanh mát.
.
< Ngôi mộ bát lăng đẹp nhất miền Nam.

Chạy về hướng Gò Công chừng 14 cây số, bạn sẽ thấy một con đường nhỏ mang tên Từ Dũ. Cuối con đường là khu lăng Hoàng gia mang dấu ấn đặc thù của kiến trúc lăng tẩm triều đình Huế, được xây dựng tại giồng Sơn Quy, từ năm 1826.

Giồng Sơn Quy (còn gọi là Gò Rùa, Núi Đất) không chỉ là khu đất cao cặp sông Sơn Quy, mà còn là di tích lịch sử mang đậm dấu ấn một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc trong những năm chống Pháp đầu tiên. Đó là nơi Bình Tây Đại soái Trương Định chọn làm chiến lũy, dựng đại bản doanh ngăn đường tiến quân của Pháp nhằm bảo vệ thị xã Gò Công từ năm 1861.

Sau khi đại đồn Kỳ Hòa thất thủ, thủ lĩnh Trương Định cho nghĩa quân đắp chiến lũy Sơn Quy bằng đất ruộng, nơi cao nhất chừng 3m, dài chừng 300m. Ngày nay, đến giồng Sơn Quy, dấu tích chiến lũy xa xưa chỉ còn trong ký ức, nhưng bạn sẽ hiểu thêm vì sao cụ đồ Nguyễn Đình Chiểu viết: "Núi Đất nửa năm ngăn sức giặc", để nhớ về một thời oanh liệt của anh hùng Trương Định.

Sơn Quy giờ không còn rõ nét chiến lũy, tuy nhiên, nơi đây vẫn còn có một di tích lịch sử quốc gia: Lăng Hoàng gia. Đây là di tích hiếm hoi còn sót lại của triều đình Huế ở vùng đất Nam bộ. Khu lăng Hoàng gia là quần thể kiến trúc gồm đền thờ và 19 ngôi mộ của những bậc tiền hiền có công khai khẩn đất Gò Công, mà tiêu biểu là mộ Đức Quốc công Phạm Đăng Hưng - ông ngoại vua Tự Đức và là cha của Từ Dũ Thái hậu.

Kiến trúc ngôi mộ của Đức Quốc công không xây theo tiền lệ "ngưu phanh mã phục" (Trâu nằm ngựa quỳ) như bao văn thần võ tướng cùng thời, mà được xây kết hợp với màu sắc văn hóa địa phương: đỉnh trụ, hình nón lá, xung quanh trang trí tám đóa sen. Bình phong quanh mộ được chạm nổi năm con sư tử.

< Khu lăng mộ Đức Quốc Công.

Đền thờ "Đức Quốc Công Từ" hay đền "Thích Lý” được xây dựng từ năm 1826, theo kiến trúc nhà gỗ ba gian hai chái đặc trưng Nam bộ. Đến năm 1849, vua Tự Đức cho đại tu theo kiến trúc cung đình, có cổng tam quan, thềm tam cấp, nhà khách, nhà trù, tàu ngựa. Năm 1889, vua Thành Thái tiếp tục cho tu sửa đền, mộ, làm thêm tường hồ, cổng gạch theo phong cách phương Tây. Năm 1921, đền được tân trang một lần nữa, lát thêm gạch men, bao lam, hoa văn khắc gỗ.

Cảnh vật phai dấu theo thời gian nhưng ngắm nhìn khu lăng Hoàng gia ở giồng Sơn Quy, cảm giác như có cái gì rất Huế ở nơi này.

Du lịch, GO! - Theo Phunu Dulich, internet

Thứ Hai, 25 tháng 7, 2011

Chợ trên đỉnh núi

Những chiếc xe jeep chuyên dụng chạy vòng vèo từ chân núi lên đỉnh Lang Biang liên tục. Chưa bao giờ đến Đà Lạt tôi lại thấy người, xe đông nghẹt ở bãi xe chờ lên đỉnh đông như vậy. Xe du lịch của các công ty lữ hành cứ đậu thành hàng, dài mãi ra. Mấy cậu hướng dẫn viên cầm cờ hiệu tíu tít chạy từ phòng vé ra bãi xe. Tiếng loa từ phòng máy vang ra từng chập, từng chập để điều khiển, bố trí lượt xe lên núi.
Chả bù mấy năm trước, khách lên núi còn thưa thớt lắm; nay đường đã mở rộng, xe lên thuận tiện, hai bên đường uốn lượn dưới ngàn thông hiện ra cứ đẹp như một giấc mơ, du khách bị quyến rũ là phải thôi.

Đến đỉnh Lang Biang, khi cả buồng phổi căng ra đón từng luồng khí mát lạnh, trong lành thì cả một không gian kì ảo lung linh hiện ra trước mắt. Từ trên độ cao trên hai nghìn mét so với mặt biển, trải dài bên dưới là sương mù, là những cụm rừng, là thảm cỏ xanh, đồi đất đỏ ngút ngàn hòa quyện vào nhau tạo nên một Lang Biang hùng vĩ, thơ mộng.
.
Bao nhiêu lần lên núi rồi mà sao trong tôi vẫn dậy lên những cảm xúc tinh khôi như lần đầu. Đứng tựa vào rào chắn, nhìn xuống bên dưới, hít từng hơi thở thật dài, thật sâu, nghe cái mát lạnh, ngây ngây của sương mù gió núi len vào phổi để cảm nhận đến tận cùng sự trong lành của trời đất, của luồng không khí xanh hiếm hoi có được, hỏi sao lòng không bay bổng lâng lâng?

Có lẽ vì vậy mà từ khi đường lên núi được mở ra đẹp đẽ, khang trang, số khách du lịch mỗi năm mỗi đông đúc hơn chăng?

Thú vị của đỉnh Lang Biang đâu chỉ là cảnh quan, là không gian thoáng đãng đầy hấp dẫn khách nhàn du. Nếu câu chuyện tình yêu đẹp đẽ bi thương của đôi tình nhân Lang Biang một thời còn in dấu trên hai pho tượng đứng bên nhau tại chốn thơ mộng này vẫn còn gợi lên bao cảm hoài thì phiên chợ đầy sắc màu rực rỡ của đồng bào các dân tộc nơi đây lại có sức cuốn hút mãnh liệt với người lên núi. Thử đảo một vòng xem.

Bao sắc màu rực rỡ của những sản phẩm từ bàn tay người tộc Chil, tộc Lạt sống dưới chân núi bày ra trước mắt. Những chiếc gùi đan lát công phu, những túi xách, bóp cầm tay lớn nhỏ đủ kiểu, những chiếc hộp đựng nữ trang, đồ trang điểm tinh xảo, mấy chiếc dây thổ cẩm làm vòng thắt trên tay. Và, một chiếc chiếu trải trên mặt đất, một chiếc dù che bên trên cho các gian hàng. Vậy là phiên chợ trên núi đã nhộn nhịp, tưng bừng vào mùa du lịch này rồi.

Tôi dừng bước ở chiếu hàng của một cô bé khoảng hơn mười tuổi đang cắm cúi đan sợi dây thổ cầm trên chiếc khung dài bằng cây đơn sơ. Mấy bạn đi chung đoàn cũng ngừng lại, nhìn say mê bàn tay thoăn thoắt của cô bé. Hỏi: Con mấy tuổi mà ngồi bán một mình vậy?
- Con 11 tuổi.
- Mấy thứ này ai làm cho con bán?
- Ba mẹ và mấy anh chị con làm.
-Mùa này con bán khá không? Ngày được bao nhiêu?
- Ngày bán được, ngày không. Hôm nào được nhiều từ ba đến năm trăm ngàn.

Ngồi trì bên cô bé mới biết tên bé là Jan, người Cơ Ho, bộ tộc Chil nhà ở chân núi, có năm anh em. Từ ba mẹ đến các anh chị đều dệt, đan mấy đồ thổ cẩm này từ tơ sợi mua ở chợ Đà Lạt. Jan thứ Út, năm nay vào lớp 6 trường Trung học cơ sở xã Lát tại đây.

Nhìn vẻ lam lũ có nét già trước tuổi của cô bé người Chil rồi nhìn vẻ mặt hồn nhiên của mấy cô bé cùng tuổi Jan trong khung hình chụp cho các bé đột nhiên tôi thấy chạnh lòng. Những ngày nghỉ hè này với các bé kia thì là một chuyến du lịch thú vị, vui vẻ bên cha mẹ, còn với bé Jan thì… nắng gió, giá buốt ngày ngày trên đỉnh cao hơn hai ngàn thước, phơi mình từ sáng đến chiều phụ bán hàng cho gia đình. Lại nghĩ về con đường lên núi, xuống núi bằng đôi chân gầy guộc của cô bé mà bùi ngùi. Đúng là vẫn còn biết bao trẻ thơ trên đất nước này cùng tuổi mà không cùng phận như thế!

Dù sao, sáng nay chắc bé gặp hên nên nhiều người trong đoàn đã mua một số đồ thổ cẩm của Jan. Mấy chiếc túi xách, vài cái bóp nhỏ đựng điện thoại, đựng tiền, mấy sợi thổ cẩm đeo tay… Chưa hết, có bạn trong đoàn còn hứng chí ngồi bệt xuống chiếu giành lấy khung dệt đòi học dệt dây thổ cẩm khiến cả đoàn cười ngất.Nhìn những gian hàng trên đất nối tiếp nhau với những sản phẩm quen thuộc đan dệt từ những sợi tơ óng ánh sắc màu bên những bàn chân trần, những gương mặt đen sạm sùm sụp trong khăn trùm và chiếc nón vải mới nhận ra cuộc sống của các dân tộc vốn là chủ nhân vùng đất này vẫn còn nghèo khổ, nhọc nhằn biết mấy.

Những phiên chợ trên đỉnh núi cao trong những mùa du lịch dù góp thêm sắc màu rực rỡ phong phú cho sự thưởng ngoạn của bao khách tham quan nhưng đời sống của cư dân đất này liệu có khá hơn? Và nhiều cô bé trạc tuổi Jan đang ngồi bán hàng trên núi đây không biết sẽ đến trường tới lúc nào?

Theo xe trở xuống, Anh tài xế tên Hoàng, một người vui chuyện đã kể thêm vài điều về các bộ tộc thuộc dân tộc Cơ Ho tỉnh Lâm Đồng và chỉ cho tôi xóm nhà ở của bộ tộc Chil, bộ tộc Lạt phía bên phải con đường dưới chân núi. Trong khoảng xanh của những đồi cỏ, dãy nhà có màu đỏ, xám thấp thoáng trong nắng. Tôi lại nghĩ về cô bé Jan và khu chợ trên đỉnh núi, thầm mong một ngày gặp lại.

Du lịch, GO! - Theo Nguyễn Ngọc Tuyết / TBKTSG

Chủ quyền VN ở biển Đông trên 'Cửu Đỉnh'

Cửu Đỉnh ở Huế đang được Nhà nước Việt Nam xét duyệt để công nhận là một bảo vật quốc gia. Trên bộ tác phẩm nghệ thuật bằng đồng này, phần lãnh hải của Việt Nam đã được cổ nhân lưu lại một cách cụ thể, sống động bằng cả hình ảnh và ký tự.

Lâu nay, biển Đông đã trở thành một vấn đề thời sự chẳng những của Việt Nam mà còn của khu vực và một số nước trên thế giới. Riêng ở Việt Nam, trong những năm trở lại đây các tài liệu liên quan đến chủ quyền biển đảo của Việt Nam đã được công bố ngày càng nhiều, làm cho vấn đề ngày càng sáng tỏ.

Ngoài hàng vạn thư tịch cổ thể hiện rõ chủ quyền của Việt Nam từ nhiều đời về biển Đông và hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, hình ảnh biển Đông còn được chạm nổi sắc nét trên bộ Cửu Đỉnh hiện được bảo lưu tại hoàng cung triều Nguyễn bên bờ sông Hương (góc phía tây nam của khu Đại nội).
.
Bản kiểm kê tài sản quốc gia

Cửu Đỉnh là một bộ tác phẩm nghệ thuật bằng đồng gồm chín cái đỉnh to lớn được Bộ Công đúc tại kinh đô Huế vào năm 1836 dưới thời Minh Mạng. Chín cái đỉnh được đặt thành một hàng ngang trước sân Thế Miếu, nơi thờ các vua triều Nguyễn. Mỗi đỉnh đối diện với một gian thờ trong tòa miếu ấy. Riêng đỉnh tương ứng với gian thờ vua Gia Long đặt hơi nhích về phía trước, vì vua Minh Mạng cho rằng đó là vị hoàng đế đã có công khai sáng triều đại.

Ở mặt trước hông các đỉnh đều đúc nổi hai chữ đại tự với chữ dưới là chữ đỉnh và chữ trên là tên gọi tắt miếu hiệu của từng vua. Chẳng hạn như Cao Đỉnh (Cao là miếu hiệu của vua Gia Long), Nhân Đỉnh (Nhân là miếu hiệu của vua Minh Mạng), Chương Đỉnh (vua Thiệu Trị), Anh Đỉnh (vua Tự Đức)…, cứ thế lần lượt theo thứ tự các chữ từ vị vua đầu của nhà Nguyễn là Cao, Nhân, Chương, Anh, Nghị, Thuần, Tuyên, Dụ và Huyền.

Đáng chú ý nhất ở đây là 153 hình ảnh được thể hiện xung quanh hông các đỉnh. Ở hông mỗi đỉnh người xưa đã đúc nổi 17 cảnh vật, được phân bố theo một biểu đồ chung: chia làm ba hàng ngang, mỗi hàng gồm một chủng loại. Tại mỗi hình ảnh đều có chữ chỉ tên từng cảnh vật.

Bằng kỹ thuật đúc đồng điêu luyện và nghệ thuật chạm khắc tinh vi, các nghệ nhân thời Minh Mạng đã thể hiện một cách khái quát nhưng súc tích sự phong phú và đa dạng của các cảnh vật tạo nên sự giàu đẹp của Tổ quốc, bao gồm núi sông, lãnh hải, cửa biển, cửa ải, động vật, thực vật, binh khí, xe thuyền...

Nếu ở Nhân Đỉnh có hình ảnh sông Hương thì ở Tuyên Đỉnh có sông Hồng và Huyền Đỉnh có sông Cửu Long. Nếu ở Cao Đỉnh có hình ảnh biển Đông (Đông Hải) thì ở Nhân Đỉnh có biển Nam (Nam Hải) và ở Chương Đỉnh có biển Tây (Tây Hải). Nếu ở Nghị Đỉnh có cửa biển Thuận An (Thuận An hải khẩu) thì ở Thuần Đỉnh có cửa biển Cần Giờ (Cần Giờ hải khẩu) và ở Dụ Đỉnh có cửa biển Đà Nẵng (Đà Nẵng hải khẩu). Nếu ở Cao Đỉnh có cọp trên rừng thì ở Nhân Đỉnh có cá voi dưới biển....

Khi đánh giá cao 153 hình ảnh trên Cửu Đỉnh, một nhà nghiên cứu phương Tây là R.P. Barnouin đã nhận xét bộ hiện vật bằng đồng này “tạo thành một bản tài liệu biểu thị kiến thức bách khoa của các nho sĩ thông thái trong triều đình Huế năm 1836, tài liệu được giữ nguyên vẹn dưới mắt chúng ta, trong khi đó thì những tài liệu khác đã bị tiêu hủy hoặc sai lạc”

(The urns constitute a text expressing the encylopedic knowledge of the learned men of the Court of Hue in 1836, a text preserved intact under our eyes whereas many others have perished or been deformed) (“Les bas- reliefs des urnes dynastiques de Huế”, tạp chí của Hội Nghiên cứu Đông Dương, bộ mới, tập XLIX- 3, 1974, Sài Gòn, trang 426).

Vào khoảng năm 1990, nhà nghiên cứu mỹ thuật Việt Nam Huỳnh Hữu Ủy đã nhận định một cách sâu sắc về Cửu Đỉnh trong một bài viết của ông như sau: “Đây là một cuộc triển lãm... xây dựng trên đời sống trí tuệ và tâm linh của cả một dân tộc mà cho đến ngày nay giá trị ấy càng được xác định hơn. Tâm hồn của đất nước truyền thống biểu hiện tài tình... để ca ngợi Tổ quốc hoa gấm, nước biếc non xanh giàu đẹp, vững bền”.

Có thể nói thêm rằng cuộc triển lãm lộ thiên này, trong một chừng mực nào đó, cũng là một bản kiểm kê tài sản quốc gia vào những thập niên đầu thế kỷ 19.

Giấy chủ quyền của dân tộc

Trong những tài sản quý báu nhất của đất nước được thể hiện trên Cửu Đỉnh, có phần lãnh hải của Tổ quốc, mà cụ thể là biển Đông, biển Nam và biển Tây.

Biển Tây là vùng biển nằm ở phía tây của Nam bộ, tiếp giáp với hải phận của Thái Lan, được gọi chung từ xưa là vịnh Thái Lan (Gulf of Siam). Biển Nam là phần lãnh hải nằm ở phía nam của Nam bộ, tiếp giáp với hải phận của các nước Malaysia, Indonesia... Riêng hải phận của biển Đông xem ra rộng lớn hơn nhiều so với hai biển kia.

Các hải phận của nước ta đã được triều đình nhà Nguyễn bấy giờ quan tâm một cách đặc biệt. Hình ảnh biển Đông được thể hiện trên Cao Đỉnh (Gia Long), biển Nam trên Nhân Đỉnh (Minh Mạng) và biển Tây trên Chương Đỉnh (Thiệu Trị) là ba cái đỉnh to cao nhất và quan trọng nhất, tượng trưng cho ba ông vua đầu tiên của triều đại.

Cửu Đỉnh ở Huế đang được Nhà nước Việt Nam xét duyệt để công nhận là một bảo vật quốc gia. Trong các giá trị của nó, chắc hẳn người đời nay không ai không quan tâm đến chủ đề lãnh hải mà cổ nhân đã lưu lại một cách cụ thể bằng cả hình ảnh lẫn ký tự trên đó.

Dù đã trải qua 175 năm (1836-2011) với bao cơn bão táp của thiên nhiên và thời cuộc, Cửu Đỉnh vẫn còn đứng vững giữa lòng đất nước. Bộ tài liệu bằng đồng này cung cấp cho chúng ta nhiều thông tin cần thiết, trong đó có những hình ảnh khẳng định chủ quyền của dân tộc về lãnh hải nói chung, biển Đông nói riêng.

Với giá trị mang tầm quốc gia, hình ảnh này xứng đáng được đưa vào hồ sơ biển Đông của Việt Nam để đấu tranh ngoại giao trên trường quốc tế.

Du lịch, GO! - Theo

Chủ Nhật, 24 tháng 7, 2011

Non thiêng Yên Tử

Mỗi độ Xuân về, du khách, tăng ni, Phật tử, tín đồ đạo hữu trong và ngoài nước lại hành hương về non thiêng Yên Tử lễ Phật, vãn cảnh chùa và chiêm ngưỡng vẻ đẹp thiên nhiên hùng vĩ của núi rừng Yên Tử.

Trăm năm tích đức tu hành
Chưa về Yên Tử chưa thành quả tu

Trải dài gần 20km trong cánh cung Đông Triều vùng Đông Bắc tổ quốc, khu di tích lịch sử và danh thắng Yên Tử thuộc địa bàn hai xã Phương Đông và Thượng Yên Công, thị xã Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh. Hầu hết các chùa, am, tháp nằm trong 2.686 ha rừng đặc dụng Yên Tử, có hệ sinh thái đa dạng phong phú của rừng Nhiệt đới và Á nhiệt đới. Trên những triền núi đá còn dấu tích của những vỏ sò, vỏ ốc là minh chứng của một thời kỳ kiến tạo địa chất lâu dài.
.
Núi Yên Tử còn được gọi là Bạch Vân Sơn hay Phù Vân Sơn, gắn liền với cuộc đời sự nghiệp của Vua Trần Nhân Tông (1258-1308) sau hai lần lãnh đạo nhân dân kháng chiến chống giặc Nguyên-Mông thắng lợi đã rời bỏ ngai vàng và xuất gia về Yên Tử tu hành (1299) lấy pháp hiệu Trúc Lâm Đại Đầu Đà, sáng lập ra Thiền phái Trúc Lâm. Từ đây, Yên Tử trở thành Trung tâm Phật giáo của Quốc gia Đại Việt. Phật hoàng Trần Nhân Tông đã cho xây dựng hàng trăm công trình lớn nhỏ trên núi Yên Tử để làm nơi tu hành và truyền kinh, giảng đạo. Sau khi ông qua đời, người kế tục sự nghiệp là Pháp Loa Đồng Kiên Cương, vị tổ thứ hai của dòng Trúc Lâm và Huyền Quang Lý Đạo Tái vị tổ thứ ba của phái Trúc Lâm. Với tinh thần nhập thế và yêu nước, giáo lý Thiền phái Trúc Lâm trở thành nền tảng tư tưởng dựng nước và giữ nước thời Trần, có ảnh hưởng sâu sắc đến Phật giáo Việt Nam sau này.

Hành trình tới đỉnh non thiêng bắt đầu từ suối Giải Oan với cây cầu đá xanh nối hai bờ suối. Tục truyền, khi vua Trần Nhân Tông nhường ngôi lại cho con là Trần Anh Tông rồi tìm đến cõi Phật, rất nhiều cung tần và mỹ nữ đã đi theo để khuyên ông trở về cung cấm nhưng không được nên đã gieo mình xuống suối tự vẫn. Vua Nhân Tông thương cảm cho lập một ngôi chùa để siêu độ giải oan cho họ, từ đó con suối cũng mang tên chùa: Giải Oan. Xung quanh chùa có 6 ngọn tháp, lớn nhất là tháp mộ vua Trần Nhân Tông, hai bên là tháp mộ sư Pháp Loa và sư Huyền Quang.

Tiếp đó tới chùa Hoa Yên còn được gọi là chùa Cả, chùa Phù Vân, chùa Vân Yên;  nằm ở độ cao hơn 500m so với mực nước biển. Đây là ngôi chùa chính, quan trọng và đẹp nhất trong hệ thống chùa ở Yên Tử. Nhìn theo thế núi, chùa Hoa Yên tọa lạc nơi đầu rồng. Đôi mắt rồng ở ngôi tháp Tổ, hai dãy núi đông, tây vươn về phía nam ôm lấy con đường hành hương dưới chân núi Giải Oan như đôi cánh tay rồng. Sách xưa ghi lại: chùa Hoa Yên ngoài tiền đường, thượng điện để thờ Phật, tả hữu còn có viện Phù đồ, có lầu trống, lầu chuông, nhà dưỡng tăng, nhà khách nghỉ… tạo thành một quần thể kiến trúc rộng lớn.

Phía trước chùa Hoa Yên là Tháp Tổ (Huệ Quang Kim tháp) nằm trong Lăng Quy Đức, được xây dựng năm 1309 sau khi Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông viên tịch, là nơi giữ xá lị của Ngài. Trong tháp thờ tượng Trần Nhân Tông ở tư thế ngồi thiền. Đế tháp trang trí hoa văn sóng nước và đài sen cách điệu tinh tế. Xung quanh chùa Hoa Yên, Tháp Tổ có rất nhiều cây tùng, cây đại cổ thụ, tuổi đời đến 700 năm, tương truyền được trồng từ khi vua Trần Nhân Tông lên núi tu hành. Ngoài những tượng, bia, tháp cổ, chùa Hoa Yên còn lưu giữ nhiều di vật quí giá: gạch hoa cúc, ngói mũi hài kép thời Trần, phù điêu chạm trên đá hình đầu rồng, sư tử…

Phía trên độ cao 700 m là chùa Vân Tiêu ẩn hiện trong làn mây mù bên triền núi cùng nhiều di tích danh thắng nổi tiếng khác như chùa Một Mái, chùa Bảo Sái, tượng đá An Kỳ Sinh, am Ngọa Vân, bàn cờ tiên…

Nằm cách không xa non thiêng là Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử - công trình thiền viện lớn nhất Việt Nam, được xây trên nền dấu tích của chùa Lân có tên chữ  Long Động tự. Vua Trần Nhân Tông đã dừng chân tại đây trước khi lên núi tu hành. Năm Kỷ Hợi (1293) ngài đã cho tôn tạo, xây dựng chùa Lân thành một nơi khang trang lộng lẫy, chùa Lân trở thành Viện Kỳ Lân, là nơi giảng đạo, độ tăng. Trong hệ thống chùa tháp ở Yên Tử, chùa Lân là ngôi chùa quan trọng chỉ đứng sau chùa Hoa Yên, nơi có nhiều vị cao tăng đã trụ trì, thuyết pháp, trong đó vua Trần Nhân Tông đã từng giảng đạo tại đây.

Chùa Lân- Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử nằm trên một quả đồi có hình dáng một con lân nằm phủ phục. Danh tiếng và sự nguy nga của chùa Lân còn được lưu truyền trong dân gian qua câu ca: Ngõ chùa Lân, sân chùa Muống, ruộng chùa Quỳnh.  Những dấu tích xưa, ngõ dài rộng, hai bên có nhiều tháp mộ các nhà sư vẫn còn tồn tại tới ngày nay.

Nhưng độc đáo và linh thiêng nhất trong hệ thống những ngôi chùa ở Yên Tử là chùa Đồng tên chữ là Thiên Phúc Tự được khởi dựng vào thời nhà Hậu Lê, tọa lạc trên đỉnh non thiêng cao 1.068 m so với mặt nước biển. Mấy trăm năm trước, Tam tổ Trúc Lâm và các Thiền sư thường ngồi thiền để “Thân hoà đồng trụ, giới hoà đồng tu”. Nơi đây, không gian thiên nhiên bao la, quanh năm mây trắng sương mờ bao phủ. Đứng trên đỉnh núi những lúc trời quang, mây tạnh, phóng tầm mắt ra xa là một bức tranh thiên nhiên vùng Đông Bắc rộng lớn kỳ vĩ với sông Bạch Đằng lịch sử, những đảo nhỏ thấp thoáng trong Vịnh Hạ Long.

Năm 2007, chùa được trùng tu, đúc mới bằng đồng nguyên chất nặng 70 tấn, chiều dài 4,6 m, chiều rộng 3,6m, cao 3,35m, hình dáng chùa như một đài sen, trong Chùa thờ Đức Phật Thích ca Mâu Ni và Tam tổ Trúc Lâm. Có người nói, chữ Đồng trong tên chùa không chỉ là tên vật liệu đã làm nên 5000 chi tiết chạm khắc, trang trí ngôi chùa mà đấy là chốn thiêng liêng nhất của Yên Tử, nơi đất trời và con người hòa đồng, đắm mình trong một không gian thiên nhiên hùng vĩ;  dưới chân ta là đất Phật còn ngay trên đầu ta đã là cổng trời.

Để lên đến chùa Đồng trên đỉnh  Yên Tử, du khách có thể hành hương vượt chặng đường dài khoảng 6000m, qua hàng ngàn bậc đá, đi giữa đường tùng xanh mát, ngắm mai vàng rực rỡ khoe sắc mỗi độ xuân về hoặc chọn cho mình hành trình ngắn hơn bằng phương tiện cáp treo. Ngắm nhìn toàn cảnh rừng núi Yên Tử từ trên cao, một màu xanh tươi của cây rừng xen lẫn đá núi chắc hẳn sẽ đem đến cho những du khách những cảm nhận mới lạ đầy thú vị.

Trải hơn 700 năm, qua sự biến động của lịch sử, tác động của thiên nhiên, có những chùa am của Yên Tử trở thành phế tích, có những công trình được trùng tu, tôn tạo lại. Song những giá trị lịch sử văn hoá, tư tưởng của Thiền phái Trúc Lâm vẫn trường tồn cùng non sông đất nước Việt Nam. Năm 1974, khu di tích lịch sử và danh thắng Yên Tử đã được Nhà nước xếp hạng là một di tích đặc biệt quan trọng của quốc gia.

Non thiêng Yên Tử bốn mùa mây bay khói tỏa, bốn mùa trầm mặc và linh thiêng đón khách hành hương nhưng đông vui nhất vẫn là vào dịp hội Xuân diễn ra từ ngày mồng 10 tháng Giêng âm lịch và kéo dài đến cuối tháng 3 âm lịch. Sự uy nghi của núi non hoà với nét cổ kính trầm mặc của những ngôi chùa, tháp tạo nên vẻ đẹp có một không hai. Hành hương trên những con đường đá mòn, rợp mát bóng tùng, thông, trúc, mai, lắng nghe tiếng róc rách của những con suối nhỏ trong mát, hít thật sâu bầu không khí trong lành, du khách thập phương bỗng quên nỗi mệt nhọc của đường dốc cheo leo.  Ấy là lúc khách trần lạc chốn bồng lai, mọi ưu phiền cũng chợt tan biến như lời câu hát “Mênh mênh mang mang Phù Vân Yên Tử, vi vi vu vu Trúc Lâm thiền tự. Thổn thức nỗi lòng ai kẻ tình si, giữa chốn thiền không tìm người trong mộng”.

Một mùa Xuân mới đang về trên quê hương, mùa của những lễ hội, những chuyến du xuân, thăm thú cảnh đẹp đất nước. Và những người con đất Việt từ mọi miền đất nước và cả ở nước ngoài lại bắt đầu những chuyến hành hương về với non thiêng Yên Tử, vùng đất Tổ của Phật giáo Việt Nam, để cùng nhau tìm hiểu, bảo tồn và gìn giữ những nét đẹp truyền thống của ông cha.

Du lịch, GO!: Vẻ đẹp danh thắng Yên Tử, Quảng Ninh

Du lịch, GO! - Theo Quehuong online, ảnh internet

Người Dáy ở Ma Lé

Xóm Ma Lé nằm gần đỉnh Lũng Cú, thuộc huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang. Đây là một xóm nhỏ ẩn chứa nhiều điều thú vị.

Ma Lé chỉ có gần 20 nóc nhà nhưng tập trung hầu hết những nét đặc trưng văn hóa của người Dáy. Họ sống vui vẻ, ôn hòa cùng với các dân tộc khác: Mông, Lô Lô, Chải, Pu Péo... Trải qua nhiều thế hệ nhưng bản sắc vẫn không bị pha trộn.

Trang phục phụ nữ người Dáy ở Ma Lé thông thường là áo dài xanh hoặc đen, vạt đến ống quyển, cài khuy từ cổ chéo xuống nách, giống như áo dài của người Kinh. Phần eo thắt đai lưng bằng vải màu xanh, đen khá chắc chắn, chiếc đai lưng này có tác dụng như bệ tì cho phần bụng hay dùng để cài dao, lạt buộc...
Phụ nữ Dáy vấn tóc kiểu vành khuyên, choàng lên trên là chiếc khăn vuông sặc sỡ tương xứng với đôi giày thêu một cách rất cầu kỳ. Họ có thể bỏ ra hàng tháng để thêu đôi giày với những đường nét tinh tế.
.
Thông thường hình thêu trên đó là biểu tượng của hạnh phúc lứa đôi: Đôi bướm, đôi uyên ương, hai bông hoa đào... Phụ nữ Dáy dùng rất ít đồ trang sức bằng kim loại. Chỉ một chiếc vòng tay, một dây xà tích hay một vòng cổ bằng bạc là đủ.

Trải qua nhiều thế hệ nhưng bản sắc người Dáy vẫn không bị pha trộn.

Người Dáy có kỹ thuật xây nhà khá đặc biệt. Xưa kia, khi rừng còn nhiều, người Dáy làm nhà sàn bằng gỗ, móng, trụ bằng đá, chạm trổ phong phú. Hiện nay ở Ma Lé còn 2 ngôi nhà sàn bằng gỗ của gia đình anh Hoàng Văn Hương và ông Hoàng Văn Nanh, có hơn 100 năm tuổi. Hai ngôi nhà này thường xuyên được tiếp đón các nhà văn hóa, khách du lịch trong nước và quốc tế đến tham quan và nghiên cứu.

Người Dáy có kỹ thuật ghép đá, chạm khắc trên đá, trên gỗ được thể hiện bằng con sơn hình hoa cúc, đèn lồng; những ô cửa sổ nan trám hay những trụ đá chạm hoa sen... khá tinh xảo, một điều ít thấy ở các dân tộc sống trên cùng địa bàn. Gần 100 năm nay, rừng ngày càng bị thu hẹp nên người Dáy xây nhà bằng đất. Có hai phương pháp, một là làm tường trình: Dùng đất ướt lèn chặt vào khuôn tường để thành một ngôi nhà đúc bằng đất; hai là trộn đất nhão với rơm, rạ đóng thành gạch rồi xây nhà. Loại vật liệu này đơn giản nhưng có sức chịu đựng dẻo dai với nắng gió trên cao nguyên Đồng Văn.

Cả hai kiểu nhà này phân chia khu vực sinh hoạt giống nhau. Ở giữa là gian thờ và tiếp khách nam, một bên là bếp và tiếp khách nữ. Gian bên kia là phòng ngủ. Nhà của người Dáy thường có thêm gác xép cả trong nhà lẫn ngoài hiên để đựng thóc lúa, người Dáy kiêng không cho khách lên khu vực này. Xung quanh nhà là chuồng gia súc và các dụng cụ chế biến nông sản.

Vào dịp Tết, người Dáy dán bùa chú màu đỏ khắp nơi, kể cả chuồng gia súc, trên đó viết những lời cầu may bằng chữ Hán, rồi nhà nhà chuẩn bị gói bánh chưng đen. Đó là loại bánh chưng rất khó bị mốc do gạo nếp được ngâm với tro mà chuyển thành màu đen, nhân bánh bằng đậu xanh tẩm hương liệu thiên nhiên, để lại dư vị khó quên.

Người Dáy còn có kỹ thuật làm "sường" (thịt xông khói) rất ngon: Thịt ướp muối được nhồi vào lòng heo rồi treo lên gác bếp cho đến lúc khô cứng lại. Khách đến chơi, người Dáy thường đem thịt này thết đãi cùng với rượu chưng cất từ một loại men đặc biệt.

Ở Ma Lé, người Dáy vẫn còn lưu giữ được những bài thuốc đông y của tổ tiên để lại. Thầy lang Lò Đình Thiêu có đến hàng trăm bài thuốc chưa có sách vở nào chép lại. Ông thường bận rộn suốt ngày với người bệnh đến từ nhiều vùng miền, chứ không riêng người Dáy.

Du lịch, GO! - Theo Baomoi, ảnh internet

Thứ Tư, 20 tháng 7, 2011

Có chăng đêm động phòng của người K’ho?

Đám cưới của đồng bào K’ho, xã La Ngâu, huyện Tánh Linh bây giờ không khác gì đám cưới của người Kinh. Cũng áo xống, váy dài váy ngắn, nhạc đệm ì xèo. Tuy vậy, theo nhiều người già kể lại, đồng bào vẫn giữ một số tập tục riêng trong hôn nhân. Một chút tò mò, chúng tôi đi tìm tập tục riêng đó, chẳng hạn như đêm động phòng...

Ngồi nói chuyện với Bờ Đam Thị Hôm và anh Roòng Đêm ở buôn Tà Pạt, xã La Ngâu trong một buổi chiều trời mưa. Đúng là dạo này đang vào giữa mùa mưa, mưa ở vùng cao có khi kéo dài nhiều ngày, lướt thướt hơn miền xuôi rất nhiều. Tôi đặt vấn đề  tìm hiểu  tập tục cưới hỏi của đồng bào K’ho, vợ chồng chị Hôm nói là sẵn sàng trả lời mọi câu hỏi mà tôi đưa ra.

Năm 1977, Bờ Đam Thị Hôm 13 tuổi, thấy con gái đã lớn, cha mẹ làm cho một phòng riêng. Hàng ngày theo cha mẹ lên rẫy, Hôm thường hay gặp và nói chuyện với Roòng Đêm, là một thanh niên hơn mình 5 tuổi, mạnh khỏe, siêng năng, nói chuyện cũng vui vui, Hôm thấy có cảm tình.
.
Năm 1979, trong một buổi tối Roòng Đêm tới nhà chơi, Hôm nói Đêm ngủ lại cho vui. Đó chính là đêm tân hôn của đôi vợ chồng trẻ.

Đêm đó Hôm mặc váy, trên ngực khoác tấm chăn. Hai người nằm tâm sự, họ nói với nhau nhiều chuyện nhưng chung quy chỉ là những lời tràn ngập tình yêu trai trẻ.
Mặc dù trong bụng rất ưng đụng vào người của Đêm, nhưng Hôm không dám do “sợ người ta đánh giá” - Bờ Đam Thị Hôm nói với tôi như vậy.

Đêm đó, hai người đã thực hiện chức năng giữ gìn nòi giống của loài người như mọi dân tộc khác. Hôm ngủ dậy trước Đêm và không quên lấy đôi dép của Đêm cất vào trong chiếc rương của mình.

Sáng hôm sau, khi Đêm đã về nhà của mình, Hôm lấy đôi dép đưa cho cha mẹ của mình xem, sau đó đưa đến cho người cậu ruột để thông báo vật chứng của việc anh Đêm là người con trai đã ngủ với mình.

Người cậu cầm vật chứng đến nói với  người nhà của Đêm. Nhìn đôi dép, mọi người đều công nhận đó là  của Đêm. Cha, mẹ và cậu của Đêm đồng ý cho Hôm bắt Đêm về làm chồng, nhưng muốn bắt thì phải nộp lễ vật gồm: một con heo 2 đòn khiêng (4 người khiêng), hai ché rượu cần, 25 lá khăn, hai con gà trống.

Năm 1979 là năm mà cả nước đều đói kém, nhà của Hôm cũng khổ như mọi gia đình khác. Dù rất thương cháu gái của mình, nhưng đời sống quá khó khăn, nên người cậu đến nói với nhà trai xin làm lễ “ bắt” thằng Đêm về làm chồng con Hôm nhưng xin làm lễ nhỏ để đãi bà con họ hàng gồm một con heo nhỏ hai tay (vòng hai bàn tay phía sau chân trước con heo) và một con gà trống.

Vợ chồng Hôm và Đêm sống với nhau đến năm 1986, lúc đó đã có năm đứa con, hai người mới tổ chức đám cưới với số lễ vật đúng như đã hứa với nhà trai. Chi phí đám cưới đều do hai vợ chồng làm mà có.

Thực ra, trước đó theo tập tục,  con gái K’ho muốn bắt con trai về làm chồng, phải đến nhà trai ở  một thời gian theo thỏa thuận, có thể ba năm, năm năm hoặc mười năm.

Trong thời gian đó, hai người không được ngủ với nhau. Nếu tự ý ngủ sẽ bị buôn làng  phạt rất nặng. Hết thời gian ở nhà trai, cô gái được quyền ngủ với người con trai ở phòng riêng của mình, rồi thông báo bắt chồng và phải nạp lễ vật theo đúng yêu cầu của nhà trai. Nếu không có đủ lễ vật cũng được quyền bắt nhưng “ xin nợ” đến khi có đủ mới nộp cho bà con nhà trai.

Không hiểu tập tục người con gái phải lấy vật chứng  của người con trai trong đêm đầu tiên làm vợ, làm chồng có từ bao giờ, nhưng đến nay bà con dân tộc K’ho ở xã La Ngâu vẫn giữ. Vật chứng là những đồ dùng hàng ngày của người con trai như: nhẫn, đồng hồ, cái áo, đôi dép…

Hình như  những thế hệ trước đây dù không đuợc đi xa, khỏi cái làng mé núi, nhưng họ cũng hiểu được tính pháp lý trong việc sử dụng vật chứng.

Theo một số người lớn tuổi kể lại, đã từng xảy ra trường hợp anh con trai “xù” bằng cách chối bay, chối biến việc đã ngủ với cô gái khi cô gái quên lấy bằng chứng. Còn nếu người con trai công nhận đã ngủ với cô gái nhưng không chịu cho bắt, sẽ bị buôn làng phạt rất nặng (thường là trâu, heo, rượu cần). Nếu không chịu nộp phạt sẽ khó sống yên với buôn làng.

Anh Phạm Đình Sang, người Kinh, sinh năm 1955 quê ở tận Cần Thơ ra làm rẫy rồi quen và được chị Lê Thị Hơn – dân tộc K’ho ở buôn Tà Lốp, xã La Ngâu bắt về làm chồng.

Anh chị đã có với nhau ba đứa con gái. Dù là người Kinh nhưng anh Sang vẫn phải sống theo đúng tập tục của quê vợ. Con gái anh chị là Lê Thị Phới, sinh năm 1992, Phới bắt chồng năm 2007, đến nay đã sinh được một đứa con gái.

Phới thật thà kể với tôi: “ Sau đêm ngủ chung, cháu lấy của chồng cháu một cái đồng hồ. Khi cháu đưa cái đồng hồ cho bà con của anh coi, ai cũng biết của anh ngay. Khỏi chối cãi gì hết”. Phới nói xong, cả hai vợ chồng ôm nhau cười nghiêng ngã. Tôi cũng góp thêm vài câu đùa giỡn cho câu chuyện thêm vui.

Theo tôi được biết, hầu như bà con dân tộc K’ho ở xã La Ngâu chưa bao giờ biết hoặc nghĩ tới chuyện ly hôn. Cho dù cuộc sống ở vùng cao đã có nhiều thay đổi theo hướng văn minh, hiện đại và vẫn còn vất vả  nhiều. Nhưng tất cả những điều đó không làm thay đổi lòng chung thủy vợ chồng của bà con dân tộc K’ho nơi đây. Đó cũng là điều đáng mừng do họ biết sống và tuân thủ  luật tục tốt đẹp, lâu đời của dân tộc mình.

Du lịch, GO! - Theo Bình Thuận Online, internet