Hiển thị các bài đăng có nhãn Thắng cảnh tâm linh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thắng cảnh tâm linh. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 24 tháng 7, 2011

Non thiêng Yên Tử

Mỗi độ Xuân về, du khách, tăng ni, Phật tử, tín đồ đạo hữu trong và ngoài nước lại hành hương về non thiêng Yên Tử lễ Phật, vãn cảnh chùa và chiêm ngưỡng vẻ đẹp thiên nhiên hùng vĩ của núi rừng Yên Tử.

Trăm năm tích đức tu hành
Chưa về Yên Tử chưa thành quả tu

Trải dài gần 20km trong cánh cung Đông Triều vùng Đông Bắc tổ quốc, khu di tích lịch sử và danh thắng Yên Tử thuộc địa bàn hai xã Phương Đông và Thượng Yên Công, thị xã Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh. Hầu hết các chùa, am, tháp nằm trong 2.686 ha rừng đặc dụng Yên Tử, có hệ sinh thái đa dạng phong phú của rừng Nhiệt đới và Á nhiệt đới. Trên những triền núi đá còn dấu tích của những vỏ sò, vỏ ốc là minh chứng của một thời kỳ kiến tạo địa chất lâu dài.
.
Núi Yên Tử còn được gọi là Bạch Vân Sơn hay Phù Vân Sơn, gắn liền với cuộc đời sự nghiệp của Vua Trần Nhân Tông (1258-1308) sau hai lần lãnh đạo nhân dân kháng chiến chống giặc Nguyên-Mông thắng lợi đã rời bỏ ngai vàng và xuất gia về Yên Tử tu hành (1299) lấy pháp hiệu Trúc Lâm Đại Đầu Đà, sáng lập ra Thiền phái Trúc Lâm. Từ đây, Yên Tử trở thành Trung tâm Phật giáo của Quốc gia Đại Việt. Phật hoàng Trần Nhân Tông đã cho xây dựng hàng trăm công trình lớn nhỏ trên núi Yên Tử để làm nơi tu hành và truyền kinh, giảng đạo. Sau khi ông qua đời, người kế tục sự nghiệp là Pháp Loa Đồng Kiên Cương, vị tổ thứ hai của dòng Trúc Lâm và Huyền Quang Lý Đạo Tái vị tổ thứ ba của phái Trúc Lâm. Với tinh thần nhập thế và yêu nước, giáo lý Thiền phái Trúc Lâm trở thành nền tảng tư tưởng dựng nước và giữ nước thời Trần, có ảnh hưởng sâu sắc đến Phật giáo Việt Nam sau này.

Hành trình tới đỉnh non thiêng bắt đầu từ suối Giải Oan với cây cầu đá xanh nối hai bờ suối. Tục truyền, khi vua Trần Nhân Tông nhường ngôi lại cho con là Trần Anh Tông rồi tìm đến cõi Phật, rất nhiều cung tần và mỹ nữ đã đi theo để khuyên ông trở về cung cấm nhưng không được nên đã gieo mình xuống suối tự vẫn. Vua Nhân Tông thương cảm cho lập một ngôi chùa để siêu độ giải oan cho họ, từ đó con suối cũng mang tên chùa: Giải Oan. Xung quanh chùa có 6 ngọn tháp, lớn nhất là tháp mộ vua Trần Nhân Tông, hai bên là tháp mộ sư Pháp Loa và sư Huyền Quang.

Tiếp đó tới chùa Hoa Yên còn được gọi là chùa Cả, chùa Phù Vân, chùa Vân Yên;  nằm ở độ cao hơn 500m so với mực nước biển. Đây là ngôi chùa chính, quan trọng và đẹp nhất trong hệ thống chùa ở Yên Tử. Nhìn theo thế núi, chùa Hoa Yên tọa lạc nơi đầu rồng. Đôi mắt rồng ở ngôi tháp Tổ, hai dãy núi đông, tây vươn về phía nam ôm lấy con đường hành hương dưới chân núi Giải Oan như đôi cánh tay rồng. Sách xưa ghi lại: chùa Hoa Yên ngoài tiền đường, thượng điện để thờ Phật, tả hữu còn có viện Phù đồ, có lầu trống, lầu chuông, nhà dưỡng tăng, nhà khách nghỉ… tạo thành một quần thể kiến trúc rộng lớn.

Phía trước chùa Hoa Yên là Tháp Tổ (Huệ Quang Kim tháp) nằm trong Lăng Quy Đức, được xây dựng năm 1309 sau khi Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông viên tịch, là nơi giữ xá lị của Ngài. Trong tháp thờ tượng Trần Nhân Tông ở tư thế ngồi thiền. Đế tháp trang trí hoa văn sóng nước và đài sen cách điệu tinh tế. Xung quanh chùa Hoa Yên, Tháp Tổ có rất nhiều cây tùng, cây đại cổ thụ, tuổi đời đến 700 năm, tương truyền được trồng từ khi vua Trần Nhân Tông lên núi tu hành. Ngoài những tượng, bia, tháp cổ, chùa Hoa Yên còn lưu giữ nhiều di vật quí giá: gạch hoa cúc, ngói mũi hài kép thời Trần, phù điêu chạm trên đá hình đầu rồng, sư tử…

Phía trên độ cao 700 m là chùa Vân Tiêu ẩn hiện trong làn mây mù bên triền núi cùng nhiều di tích danh thắng nổi tiếng khác như chùa Một Mái, chùa Bảo Sái, tượng đá An Kỳ Sinh, am Ngọa Vân, bàn cờ tiên…

Nằm cách không xa non thiêng là Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử - công trình thiền viện lớn nhất Việt Nam, được xây trên nền dấu tích của chùa Lân có tên chữ  Long Động tự. Vua Trần Nhân Tông đã dừng chân tại đây trước khi lên núi tu hành. Năm Kỷ Hợi (1293) ngài đã cho tôn tạo, xây dựng chùa Lân thành một nơi khang trang lộng lẫy, chùa Lân trở thành Viện Kỳ Lân, là nơi giảng đạo, độ tăng. Trong hệ thống chùa tháp ở Yên Tử, chùa Lân là ngôi chùa quan trọng chỉ đứng sau chùa Hoa Yên, nơi có nhiều vị cao tăng đã trụ trì, thuyết pháp, trong đó vua Trần Nhân Tông đã từng giảng đạo tại đây.

Chùa Lân- Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử nằm trên một quả đồi có hình dáng một con lân nằm phủ phục. Danh tiếng và sự nguy nga của chùa Lân còn được lưu truyền trong dân gian qua câu ca: Ngõ chùa Lân, sân chùa Muống, ruộng chùa Quỳnh.  Những dấu tích xưa, ngõ dài rộng, hai bên có nhiều tháp mộ các nhà sư vẫn còn tồn tại tới ngày nay.

Nhưng độc đáo và linh thiêng nhất trong hệ thống những ngôi chùa ở Yên Tử là chùa Đồng tên chữ là Thiên Phúc Tự được khởi dựng vào thời nhà Hậu Lê, tọa lạc trên đỉnh non thiêng cao 1.068 m so với mặt nước biển. Mấy trăm năm trước, Tam tổ Trúc Lâm và các Thiền sư thường ngồi thiền để “Thân hoà đồng trụ, giới hoà đồng tu”. Nơi đây, không gian thiên nhiên bao la, quanh năm mây trắng sương mờ bao phủ. Đứng trên đỉnh núi những lúc trời quang, mây tạnh, phóng tầm mắt ra xa là một bức tranh thiên nhiên vùng Đông Bắc rộng lớn kỳ vĩ với sông Bạch Đằng lịch sử, những đảo nhỏ thấp thoáng trong Vịnh Hạ Long.

Năm 2007, chùa được trùng tu, đúc mới bằng đồng nguyên chất nặng 70 tấn, chiều dài 4,6 m, chiều rộng 3,6m, cao 3,35m, hình dáng chùa như một đài sen, trong Chùa thờ Đức Phật Thích ca Mâu Ni và Tam tổ Trúc Lâm. Có người nói, chữ Đồng trong tên chùa không chỉ là tên vật liệu đã làm nên 5000 chi tiết chạm khắc, trang trí ngôi chùa mà đấy là chốn thiêng liêng nhất của Yên Tử, nơi đất trời và con người hòa đồng, đắm mình trong một không gian thiên nhiên hùng vĩ;  dưới chân ta là đất Phật còn ngay trên đầu ta đã là cổng trời.

Để lên đến chùa Đồng trên đỉnh  Yên Tử, du khách có thể hành hương vượt chặng đường dài khoảng 6000m, qua hàng ngàn bậc đá, đi giữa đường tùng xanh mát, ngắm mai vàng rực rỡ khoe sắc mỗi độ xuân về hoặc chọn cho mình hành trình ngắn hơn bằng phương tiện cáp treo. Ngắm nhìn toàn cảnh rừng núi Yên Tử từ trên cao, một màu xanh tươi của cây rừng xen lẫn đá núi chắc hẳn sẽ đem đến cho những du khách những cảm nhận mới lạ đầy thú vị.

Trải hơn 700 năm, qua sự biến động của lịch sử, tác động của thiên nhiên, có những chùa am của Yên Tử trở thành phế tích, có những công trình được trùng tu, tôn tạo lại. Song những giá trị lịch sử văn hoá, tư tưởng của Thiền phái Trúc Lâm vẫn trường tồn cùng non sông đất nước Việt Nam. Năm 1974, khu di tích lịch sử và danh thắng Yên Tử đã được Nhà nước xếp hạng là một di tích đặc biệt quan trọng của quốc gia.

Non thiêng Yên Tử bốn mùa mây bay khói tỏa, bốn mùa trầm mặc và linh thiêng đón khách hành hương nhưng đông vui nhất vẫn là vào dịp hội Xuân diễn ra từ ngày mồng 10 tháng Giêng âm lịch và kéo dài đến cuối tháng 3 âm lịch. Sự uy nghi của núi non hoà với nét cổ kính trầm mặc của những ngôi chùa, tháp tạo nên vẻ đẹp có một không hai. Hành hương trên những con đường đá mòn, rợp mát bóng tùng, thông, trúc, mai, lắng nghe tiếng róc rách của những con suối nhỏ trong mát, hít thật sâu bầu không khí trong lành, du khách thập phương bỗng quên nỗi mệt nhọc của đường dốc cheo leo.  Ấy là lúc khách trần lạc chốn bồng lai, mọi ưu phiền cũng chợt tan biến như lời câu hát “Mênh mênh mang mang Phù Vân Yên Tử, vi vi vu vu Trúc Lâm thiền tự. Thổn thức nỗi lòng ai kẻ tình si, giữa chốn thiền không tìm người trong mộng”.

Một mùa Xuân mới đang về trên quê hương, mùa của những lễ hội, những chuyến du xuân, thăm thú cảnh đẹp đất nước. Và những người con đất Việt từ mọi miền đất nước và cả ở nước ngoài lại bắt đầu những chuyến hành hương về với non thiêng Yên Tử, vùng đất Tổ của Phật giáo Việt Nam, để cùng nhau tìm hiểu, bảo tồn và gìn giữ những nét đẹp truyền thống của ông cha.

Du lịch, GO!: Vẻ đẹp danh thắng Yên Tử, Quảng Ninh

Du lịch, GO! - Theo Quehuong online, ảnh internet

Thứ Sáu, 22 tháng 7, 2011

Hành hương về chốn tổ Vĩnh Nghiêm

Nhắc đến tên gọi Vĩnh Nghiêm, người dân TP.HCM đều nhớ đến ngôi chùa lớn toạ lạc tại đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, quận 3, nhưng ít ai biết, chùa Vĩnh Nghiêm ở TP.HCM được xây dựng theo nguyên mẫu chùa Vĩnh Nghiêm ở Bắc Giang.

"Ai qua Yên Tử, Quỳnh Lâm
Vĩnh Nghiêm chưa tới thiền tâm chưa đành”.

Cùng với Yên Tử, Quỳnh Lâm, chùa Vĩnh Nghiêm - hay có tên gọi khác là chùa Đức La, thuộc xã Trí Yên, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang, được xem là một trong những trung tâm Phật giáo lớn của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, là trường đào tạo tăng ni, Phật tử đầu tiên ở Việt Nam.

Ngôi chùa cổ Vĩnh Nghiêm nằm tại ngã ba sông Phượng Nhỡn, nơi gặp gỡ của 2 con sông lớn (sông Thương và sông Lục Nam), nơi phù sa hội tụ trước khi đổ ra biển. Từ chùa nhìn về bên kia sông, có thể trông rất rõ đền Kiếp Bạc - nơi  thờ Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn.

Kề bên Kiếp Bạc là dãy Côn Sơn - nơi nhà chính trị, nhà quân sự, nhà thơ lỗi lạc Nguyễn Trãi về mai danh ẩn tích. Xa hơn chút nữa là danh lam thắng tích Yên Tử - vùng đất thánh của thiền phái Trúc Lâm.

Du khách hành hương về Vĩnh Nghiêm sẽ được nghe sự tích vua Trần chọn đất xây chùa. Chuyện xưa kể, sau chiến thắng quân Nguyên Mông, vị vua anh hùng Trần Nhân Tông đã đi du ngoạn khắp nơi, ngắm nhìn giang sơn cẩm tú để chọn đất dựng chùa. Khi ngài tới nơi này, con ngựa chiến từng xông pha trận mạc cùng ngài bỗng lồng lên dẫm nát hoa màu. Dân làng kéo nhau đến xem và quỳ xuống lạy thì con ngựa dừng lại. Vua hỏi dân làng, được biết đây là vùng đất thiêng nên cho dựng ở đây một ngôi chùa lớn đặt tên là Vĩnh Nghiêm.

Vĩnh Nghiêm dần trở thành một trung tâm Phật giáo nổi tiếng dưới thời Trần, là nơi đào tạo tăng đồ. Vĩnh Nghiêm cũng là nơi tu hành của 3 nhân vật sáng lập ra thiền phái Trúc Lâm gồm: vua Trần Nhân Tông, Pháp Loa thiền sư Đồng Kiên Cương và Huyền Quang đại sư Lý Đạo Toái.

Chùa Vĩnh Nghiêm có kiến trúc bề thế, khuôn viên chùa rộng và đẹp gồm tam quan, tam bảo, nhà tổ đệ nhất, nhà tổ đệ nhị, gác chuông, khách đường, hành lang tả hữu, vườn tháp... được bố trí hài hoà theo bố cục kiến trúc ‘‘nội vương, ngoại quốc”.

Ngoài những giá trị kiến trúc nghệ thuật, chùa Vĩnh Nghiêm còn được xem như một bảo tàng văn hoá Phật giáo Đại thừa tiêu biểu ở miền Bắc Việt Nam. Chùa còn lưu giữ được nhiều di vật, cổ vật quý như: hệ thống tượng thờ, đồ thờ, các bức phù điêu, chạm khắc, hệ thống văn bia, hoa văn trên kiến trúc...

Đặc biệt, chùa có kho mộc thư với những bộ ván in kinh như: Hoa Nghiêm sớ, Di Đà sớ, Yên Tử nhật trình, Bản Nguyện chân kinh, Tỳ Khâu Ni giới kinh, Thần Du phương ký… Tổng cộng, chùa còn giữ được 34 đầu sách với hơn 3000 bản khắc, mỗi bản có hai mặt, mỗi mặt có 2 trang sách khắc ngược bằng chữ Hán. Đây là một trong những di sản văn hoá đặc biệt quý mà hiếm nơi nào trên đất nước ta còn lưu giữ được.

Chùa Vĩnh Nghiêm còn có tấm bia đá cổ 6 mặt đặt trên bệ sen, thân bia cao 1,18m, mỗi mặt rộng 0,32m, 5 mặt được chạm trổ ‘‘lưỡng long chầu nguyệt”. Bia dựng năm Hoằng Định 1606, nội dung bia ghi lại việc trùng tu chùa năm đó.

Lễ hội chùa Vĩnh Nghiêm diễn ra vào ngày 14 tháng 2 Âm lịch hàng năm, là một trong những lễ hội lớn của vùng Kinh Bắc xưa và Bắc Giang nay. Hơn 700 năm đã trôi qua, với những giá trị văn hoá lớn lao, chốn tổ Vĩnh Nghiêm vẫn là đích đến của nhiều đoàn khách hành hương tìm về nguồn cội, về cái thiện, về sự thanh thản trong tâm hồn…

Du lịch, GO! - Theo báo Phụ Nữ, ản internet

Thứ Tư, 20 tháng 7, 2011

Tìm hiểu về những ngôi chùa Khmer độc đáo

Những ngôi chùa của người Khmer Nam Bộ có kiến trúc vô cùng độc đáo không nơi nào có được. Chính vì thế, không chỉ là nơi sinh hoạt tinh thần của đồng bào, những ngôi chùa này ngày càng được đông đảo du khách đến thăm quan, chiêm ngưỡng.
Hiện khu vực ĐBSCL có khoảng 600 ngôi chùa Khmer. Trong số đó có rất nhiều chùa cổ vài trăm tuổi được công nhận là di tích lịch sử văn hoá cấp Quốc gia và trở thành điểm đến hấp dẫn với nhiều khách du lịch trong và ngoài nước.

Chùa Dơi

Chùa Dơi được xây dựng năm 1569 với tên khai sinh theo ngôn ngữ Khmer Sêrây Têchô Mahatúp, còn được gọi theo tiếng Việt là Chùa Mã Tộc. Chùa nằm trên địa phận tỉnh Sóc Trăng. Cái tên chùa Dơi được nhân dân quen gọi hơn cả vì có một đàn dơi hàng vạn con cư trú trong vườn chùa.
.
< Chùa Dơi nổi tiếng với kiến trúc đẹp và đàn dơi lạ hàng vạn con trú trong vườn chùa.

Chùa Dơi còn nổi tiếng là một quần thể kiến trúc đẹp vào bậc nhất với mái hai lớp ngói mầu. Phía đầu hồi, bốn đầu mái được chạm trổ tinh xảo hình rắn Naga cong vút. Trên đỉnh chùa có một ngọn tháp nhọn. Hàng cột đỡ bao quanh chùa, mỗi cột có một tượng tiên nữ Kemnar đôi tay chắp trước ngực như đang cất lời đón chào khách thăm viếng…

Ngay từ cổng vào cho đến kiến trúc mái chùa đã toát lên nét tinh xảo đặc trưng. Những họa tiết vẽ trên cột, trần, khu nhà có tượng Phật nằm tuy không có nhiều tiểu tiết, nhưng cũng đủ mô phỏng tín ngưỡng của người Khmer. Những bức họa lớn do các Phật tử từ nhiều nơi thực hiện gần kín hết các bức tường phía ngoài.

Chùa Tổng Quản

Chùa thuộc xã Thới Quản, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang, có tuổi đời trên 300 năm. Nơi đây không chỉ là nơi sinh họat văn hóa tinh thần gắn liền với lịch sử cộng đồng dân cư, mà ghi dấu lịch sử cách mạng suốt  2 thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và Mỹ xâm lược.

Cuối thế kỷ thứ 17, dưới sự trụ trì của hòa thượng Danh Hoàng (Tà Hoang), đồng bào người Khmer và phật tử ở đây đã khai phá rừng hoang, đuổi thú dữ, dựng lên một ngôi chùa thờ Phật. Khi mới dựng, ngôi chùa có tên gọi theo tiếng Khmer là KOMPÔNG KROBÂY (Chùa Bến Trâu). Đến năm 1948, chùa Tổng Quản được xây dựng lại bằng vật liệu kiên cố (chỉ giữ cột kèo cũ) với lối kiến trúc đặc sắc của ngôi chùa khmer truyền thống.

Từ năm 1952, chùa được gọi là WATT SARÂY SUASĐÂY (Chùa Tự do - Hạnh phúc) đồng bào địa phương cũng quen gọi là chùa Tổng quản.

Chùa Chén Kiểu

< Chùa đẹp và đặc sắc bởi được trang trí từ những mảnh chén, đĩa sứ ốp lên tường.

Chùa có tên tiếng Khmer làWath Sro Loun, hay Wath Chro Luông, là một ngôi chùa nằm trên Quốc lộ 1A, cách thị xã Sóc Trăng 12km về hướng Tây, hướng từ thị xã Sóc Trăng đi Bạc Liêu.

Chùa được khởi công xây dựng từ năm 1815. Theo những người già kể lại, địa điểm xây dựng chùa Sà Lôn đã được dời chỗ 3 lần và đến lần thứ 3 ở ngay địa điểm hiện tại.

Tên của chùa được lấy tên từ một tên của một con sông chạy dọc theo đường làng trước kia, có tên Chro Luong (lối), nên lúc đầu mới xây dựng, chùa được gọi là Wath Chro Laung, về sau đọc chại thành Sro Lôn, hay Sà Lôn. Sở dĩ chùa Sà Lôn có tên gọi là Chén Kiểu vì có nét đặc sắc là những mảnh chén, đĩa sứ ốp lên tường để trang trí.

Trong Chiến tranh Việt Nam, ngôi chánh điện của chùa bị sập do bom đạn. Năm 1969, chùa được trùng tu, đến năm 1980 thì hoàn thành. Trong khi trùng tu lại phần sau ngôi chánh điện, do thiếu kinh phí nên các vị sư sãi cùng ban quản trị chùa đã nảy ra sáng kiến lấy những mảnh vỡ chén kiểu đắp vào. Khi du khách thập phương đến chùa tham quan, đã thấy được sự khác biệt trong việc sáng tạo phong cách xây dựng chùa nên gọi chùa Sà Lôn là Chén Kiểu.

Chùa Ghôsitaram

< Ngoài những ngọn tháp cao chót vót, chùa còn có hàng chục hình tượng con rồng được bố trí ở phần nóc.

Chùa thuộc ấp Cù Lao, xã Hưng Hội, huyện Vĩnh Lợi, Bạc Liêu. Hòa thượng Hữu Hinh, trụ trì Ghôsitaram, cho biết chùa được xây dựng năm 1860, là cái nôi của phong trào tu học. Đến nay, đã đào tạo thành danh hơn 3.500 tăng sinh và học sinh. Chùa không chỉ là nơi tu học, rèn đức luyện tài cho giới tăng sinh, mà còn tổ chức các lớp học bổ túc văn hóa cấp trung học cơ sở và trung học phổ thông.

Năm 2001, chùa được trùng tu và xây mới phần chính điện theo kiến trúc cổ kết hợp với kiến trúc hiện đại, hài hòa giữa kiến trúc truyền thống của Phật giáo Nam tông Khmer với tinh hoa văn hóa dân tộc.

Ngoài những ngọn tháp cao chót vót còn có hàng chục hình tượng con rồng được bố trí ở phần nóc. Bên ngoài và phía trong của chánh điện được điêu khắc tỉ mỉ với hàng trăm hình tượng khác nhau theo truyền thuyết Tam tạng kinh của Phật giáo. Khắp nơi trong chánh điện đều được chạm trổ, đắp đường nét hoa văn phức tạp và độc đáo bằng bàn tay khéo léo của các nghệ nhân Khmer, tạo thành một công trình văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc. Để hoàn thành chạm trổ hoa văn cho ngôi chánh điện, nghệ nhân Danh Sà Rinhông đã mất khoảng 4 năm.

Công trình sẽ trường tồn để làm nơi tu hành, làm lành, lánh dữ theo con đường thiện pháp của Phật giáo. Ngoài chánh điện, nhiều hạng mục phụ khác cũng được xây dựng như đôi cột phướn, hai nhà tháp thờ hài cốt tập thể, đài hỏa táng, nhà để ghe ngo.

Chùa Vàm Ray

< Chùa Vàm Ray mang đặng trưng kiến trúc Angkor và hiện là ngôi chùa Khơ me lớn nhất Việt Nam.

Chùa Vàm Ray khánh thành năm 2010 tại tỉnh Trà Vinh. Đây là ngôi chùa Khmer đến thời điểm hiện tại là lớn nhất Việt Nam do ông Trầm Bê tài trợ phục chế và cải tạo, trong thời gian 3 năm với tổng kinh phí hơn 1 triệu USD.

Chùa Vàm Ray mang đặng trưng kiến trúc Angkor của người Campuchia với hai cấp sân rộng bao quanh ngôi chánh điện, được tráng xi măng. Mái  có ba cấp, mỗi cấp được chia thành ba nếp, nếp giữa lớn hơn, hai nếp phụ hai bên bằng nhau, không có tháp nóc.

Chi tiết, hoa văn được chạm khắc tỉ mỉ bằng đất sét, đặt trên 1 bàn lớn, xong họ áp vữa – bê tông vào để đổ thành khuôn, họ dùng những khuôn này để tạo nên những chi tiết, hoa văn trên công trình.

Đỉnh cao nghệ thuật ở chùa thể hiện ở những họa tiết độc đáo nơi mái vòm, tường, các hàng cột và cầu thang, như tượng đầu vị thánh bốn mặt Maraprum là tiền thân của Brahma, vị thần sáng tạo ra thế giới, nữ thần Kayno nửa người nửa chim, chim thần Marakrit. Trên những hàng cột là phù điêu các tiên nữ và quái vật; thánh bốn mặt Maraprum “đội đèn” ở chi tiết lan can; những hàng cột phía ngoài chánh điện được xây dựng theo lối kiến trúc cổ Cô-ranh, phía trên tiếp giáp giữa đầu cột với mái chùa có tượng thần Krud mình người đầu chim, mỏ ngậm viên ngọc với hai tay đỡ mái chùa…

Du lịch, GO! - Theo Nguoilaodong

Thăm những ngôi chùa Nam bộ

Thứ Sáu, 15 tháng 7, 2011

Chùa Vạn Niên - nghìn năm lặng lẽ

Hà Thành là nơi tập trung nhiều ngôi chùa có cả ngàn năm tuổi. Chùa Vạn Niên - giống như cái tên của nó, đã trường tồn cùng với Thăng Long một nghìn năm nay. Nhưng với vẻ khiêm tốn của mình và trải qua thời gian đằng đẵng, không còn nhiều người biết đến ngôi chùa này.

< Cổng sau chùa Vạn Niên nhìn ra Hồ Tây.

Trong cuộc sống hối hả, người ta tìm đến vãn cảnh chùa chiền vừa để thấy lòng mình thanh thản hơn, vừa cầu bình an sức khỏe cho người thân. Hà Nội có khá nhiều ngôi chùa như thế, không chỉ có cảnh vật hữu tình mà kiến trúc cổ kính có giá trị. Nằm ngay trên đường Lạc Long Quân khang trang sạch sẽ, chùa Vạn Niên không tấp nập người khói hương mà cảnh vật thanh bình cây cối xanh mát. Bức tượng Phật khá lớn đặt giữa trời, trước đài phun nước, những bông sen bông súng nở hoa tạo nên khung cảnh thanh tịnh khoáng đạt.
.
Ngày thường, chùa vắng lặng chỉ có những người trong chùa trông coi hương khói, đến ngày rằm và ngày lễ, người dân đến đây thắp hương rất đông. Không giống như các ngôi chùa khác người ta đến xin cầu tài làm ăn, chùa Vạn Niên mang hơi hướng cầu bình an, tránh tà, cầu xin sức khỏe cho gia đình, con cháu. Cảnh chùa không còn rộng lớn nhưng đổi lại là không gian xanh mát khiến cho khách vãng lai muốn dừng chân nghỉ lại. Cho dù chỉ ngồi dưới chân tượng phật mà ngẫm nghĩ và để cho lòng mình được tự tại thanh nhàn.

< Cổng chính chùa Vạn Niên.

Cổng chùa Vạn Niên Chùa Vạn Niên nằm ở bờ phía tây của Hồ Tây, thuộc địa phận ấp Quán La, nay thuộc Xuân La, quận Tây Hồ. Hiện nay trên nóc chùa còn ba chữ triện đắp nổi “Vạn Niên tự” nhưng tên cũ của chùa là Vạn Tuế.  Chùa có gốc tích từ rấy lâu đời, tường truyền, đời nhà Lý năm Giáp Dần, niên hiêụ Thuận Thiên thứ Năm (1014)., Thạch Nhai tăng thống tấu xin cho lập giới đàn ở đây để tập hợp tăng đồ thụ giới. Vua xuống chiếu ban cho. Nhiều nhà sư danh tiếng như Lâm Tuệ Sinh, Lý Thảo được từng trị vì ở đây. Đến thời Lý, chùa đã trở thành chốn tùng lâm thị giới cho các tăng đồ.

Như vậy, ngay từ thời kỳ này, đây đã phải là một ngôi chùa có quy mô lớn. Hiện nay, chùa Vạn Niên thờ Phật và bà chúa Liễu Hạnh. Suốt hơn 1.000 năm lịch sử, qua bao thăng trầm, thay đổi, ngôi chùa cũng đã nhiều lần trùng tu. Đến nay, chùa Vạn Niên có phong cách kiến trúc thời Nguyễn. Mặt bằng chùa bao gồm: tam quan, chùa chính và điện mẫu, ẩn hiện dưới những vòm cây cổ thụ và in bóng xuống hồ Tây. Bộ di vật của chùa gồm hơn 40 pho tượng tròn và 10 đạo sắc phong thần của thời Lê, Tây Sơn được đánh giá là lớn và có giá trị lịch sử - văn hoá nghệ thuật cao được lưu giữ tại chùa.

Một góc cảnh chùa với hoa sen đang nở Hiện tại, chùa Vạn Niên nằm khiêm tốn nép mình dưới những rặng cây cổ thụ um tùm. Chùa đã được xếp hạng di tích lịch sử văn hoá. Những ngày rằm và mùng 1 hàng tháng chùa làm cơm chay để các Phật tử đi lễ chùa dùng cơm chay cùng nhà chùa. Nhà chùa làm cơm chay rất nhiều món và rất ngon.

Thông thường để dự cơm chay thì các Phật tử báo với nhà chùa để nhà chùa chuẩn bị và tịnh tài thì các Phật tử tuỳ hỷ.  Bài ký trên chuông đồng "Vạn Niên Tự Chung" đúc vào đời Gia Long cho biết: "Chùa Vạn Niên là một di tích cổ có qui mô bề thế, một danh lam cổ tích lớn ở phía tây kinh đô Thăng Long". Từ đó về sau, ngôi chùa được trùng tu nhiều lần. Ngôi cổ tự này cũng là nơi dừng chân của nhiều du khách đến thưởng ngoạn cụm di tích phủ - đền - chùa Hồ Tây của Thủ đô ngàn năm tuổi.

Ngôi cổ tự Vạn Niên là nơi dừng chân của nhiều du khách đến thưởng ngoạn cụm di tích phủ - đền- chùa Hồ Tây của Thủ đô ngàn năm văn hiến. Chùa đã được Bộ Văn hoá thể thao và Du lịch xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia năm 1996. Nhiều năm nay, di tích này luôn được chính quyền và nhân dân Thủ đô cùng du khách thập phương trân trọng, gìn giữ, tu bổ tôn tạo ngày một khang trang hơn. Hướng tới 1000 năm Thăng Long Hà Nội, chùa Vạn Niên không chỉ giữ mãi nét đẹp truyền thống, cổ kính cho không gian của Thủ đô mà còn giữ lại cả nét độc đáo về văn hóa kiến trúc cho con cháu mai sau.

Du lịch, GO! - Theo NguoiHanoi, VOV

Thứ Bảy, 2 tháng 7, 2011

Chùa Phật Tích - Bắc Ninh

Chùa Phật Tích nằm trên sườn nam núi Phật Tích (còn gọi núi Lạn Kha, non Tiên) thuộc xã Phật Tích, huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh. Ngay từ những thế kỷ đầu công nguyên, xã Phật Tích đã nằm trong địa bàn diễn ra cuộc gặp gỡ giữa Phật giáo Ấn Độ và tín ngưỡng dân gian Việt cổ. Trên cơ sở đó hình thành trung tâm Phật giáo đầu tiên của đất nước (trung tâm Dâu - Luy Lâu). Và nhà sư Ấn Độ Khâu-đà-la đã về đây dựng chùa và truyền đạo. Nhưng phải đến đời Lý (1010-1225) thì chùa Phật Tích mới được xây dựng với qui mô lớn. Chùa Phật Tích được triều Lý ưu ái đặc biệt bởi nó nằm trong vùng văn hóa lâu đời của xứ Kinh Bắc, quê hương của vua Lý.

Theo tài liệu cổ thì chùa Phật Tích được khởi dựng vào năm Thái Bình thứ tư (1057) với nhiều tòa ngang dãy dọc. Năm 1066, vua Lý Thánh Tông lại cho xây dựng một cây tháp cao.

Sau khi tháp đổ mới lộ ra ở trong đó bức tượng Phật A-di-đà bằng đá xanh nguyên khối được dát ngoài bằng vàng. Để ghi nhận sự xuất hiện kỳ diệu của bức tượng này, làng đổi tên là Phật Tích và dời cả lên trên sườn núi.

Vì Phật Tích là một trung tâm Phật giáo nổi tiếng và là nơi cảnh quan tươi đẹp lại gắn với hàng loạt những câu chuyện huyền thoại, nên các vua Lý và sau này là các vua Trần thường xuyên lui tới thăm viếng.

Năm 1071, Lý Thánh Tông đi du ngoạn khắp vùng Phật Tích và viết chữ "Phật" dài tới 5 mét, sai khắc vào đá đặt trên sườn núi. Trong buổi đầu xây dựng chùa Phật Tích, bà Ỷ Lan có vai trò đặc biệt quan trọng. Để ghi nhận công lao của bà, ở thôn Vĩnh Phú lập đền thờ bà gọi là đền bà Tấm.

Sang thời Trần, Phật Tích vẫn là ngôi chùa lớn, một đại danh thắng. Thời bấy giờ vua Trần Nhân Tông đã cho xây tại chùa một thư viện lớn và cung Bảo Hoa. Sau khi khánh thành, vua Trần Nhân Tông đã sáng tác tập thơ "Bảo Hoa dư bút" dày tới 8 quyển. Vua Trần Nghệ Tông đã lấy Phật Tích làm nơi tổ chức cuộc thi Thái học sinh (thi Tiến sỹ). Đời vua Lê Hiển Tông (1740-1786), một đại yến hội đã được mở ở đây.

Trải qua thời gian, chùa Phật Tích bị tàn phá nặng nề. Vào thời Lê, năm 1686, chùa được xây dựng lại với quy mô rất lớn và đổi tên là Vạn Phúc tự. Bia đá còn ghi lại cảnh chùa thật huy hoàng: "Trên đỉnh núi mở ra một tòa nhà đá, bên trong sáng như ngọc lưu ly. Điện ấy đã rộng lại to, sáng sủa lại kín. Trên bậc thềm đằng trước có bày mười con thú lớn bằng đá, phía sau có Ao Rồng, gác cao vẽ chim phượng và sao Ngưu, sao Đẩu sáng lấp lánh, đầu rồng và tay rồng với tới trời sao".

< Đại Phật tượng đang được dựng.

Chùa được kiến trúc theo kiểu "nội công ngoại quốc", sân chùa là cả một vườn hoa mẫu đơn rực rỡ. Bên phải chùa là Miếu thờ Đức chúa tức bà Trần Thị Ngọc Am là đệ nhất cung tần của chúa Trịnh Tráng tu ở chùa này. Bà chẳng những có công lớn trùng tu chùa mà còn bỏ tiền cùng dân 13 thôn dựng đình. Bên trái chùa chính là nhà tổ đệ nhất thờ Chuyết chuyết Lý Thiên Tộ. Ông mất tại đây năm 1644 thọ 55 tuổi, hiện nay chùa còn giữ được pho tượng của Chuyết công đã kết hỏa lúc đang ngồi thiền. Phía sau chùa là khu vườn tháp gồm 39 ngọn xây bằng gạch và bằng đá (nay còn 34 ngọn).

Nhưng rồi vẻ huy hoàng và sự thịnh vượng của chùa Phật Tích cũng chỉ tồn tại sau đó được gần 300 năm. Kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ và chùa bị tàn phá, hư hỏng nhiều. Khi hòa bình lập lại (1954) đến nay, chùa Phật Tích được khôi phục dần. Năm 1959, Bộ Văn hóa cho tái tạo lại 3 gian chùa nhỏ làm nơi đặt pho tượng A di đà bằng đá quý giá. Tháng 4 năm 1962, Nhà nước công nhận chùa Phật Tích là di tích lịch sử - văn hóa. Sau đó nhân dân trồng phía sau chùa một khu rừng với trên một vạn cây thông và cây bạch đàn, và trồng ở trước cửa chùa vườn cây ăn quả. Cho tới nay, chùa Phật Tích có 7 gian tiền đường để dùng vào việc đón tiếp khách, 5 gian bảo thờ Phật, đức A di đà cùng các vị tam thế, 8 gian nhà Tổ, và 7 gian nhà thờ Mẫu.

Chùa Phật Tích, một công trình văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, cho đến nay vẫn còn giữ được nhiều di vật cổ quý giá. Bức tượng Phật A di đà bằng đá xanh ngồi trên tòa sen cao 1,87 m, một tác phẩm điêu khắc đặc sắc của nền mỹ thuật nước nhà nói chung và nghệ thuật tạc tượng nói riêng. Tượng người chim đánh trống, một nhân vật thần thoại, thể hiện ước mơ thoát tục và khát vọng vươn tới của con người. Đặc biệt, phía trước chùa Phật Tích có một hàng thú 10 con: tê giác, trâu, voi, sư tử, ngựa... to lớn. Tất cả các di vật cổ bằng đá nói trên đều là những tác phẩm nghệ thuật tài hoa của các nghệ nhân dựng chùa buổi đầu tiên với những nét rất đặc trưng cho thời Lý.

Nằm trên sườn núi, xung quanh là rừng thông và vườn cây trái, chùa Phật Tích mang những nét huyền bí và thật thơ mộng. Chùa lại là một trung tâm Phật giáo thịnh vượng, là công trình văn hóa quý quá và đặc biệt là nằm trong vùng văn hiến Kinh Bắc lâu đời nên chùa Phật Tích đã thu hút được bà con trong vùng và du khách thập phương.

Du lịch, GO! - Theo báo Thái Nguyên

Thứ Sáu, 1 tháng 7, 2011

Cổ tích đất Luy Lâu

Cách Hà Nội khoảng hơn 20km về phía Đông, vùng đất cổ tích Dâu – Thành Luy Lâu mang trong lòng biết bao câu truyện cổ. Và chắc hẳn bất kỳ ai cũng đã ít nhất một lần được nghe những câu ca dao nói về miền đất thiêng này: “Dù ai đi đâu về đâu/ Hễ trông thấy tháp chùa Dâu thì về/ Dù ai buôn bán trăm nghề/ Nhớ ngày mồng tám thì về hội Dâu".
Hội chùa Dâu (Thuận Thành, Bắc Ninh) được tổ chức hàng năm vào ngày mùng 8 - 4 (Âm lịch), cũng là ngày Phật đản theo truyền thống cổ, nhưng lễ hội được tổ chức kéo dài từ mấy ngày trước đó. Vào ngày hội, kiệu của các Nữ thần Pháp Vũ từ chùa Đậu, tượng Pháp Lôi từ chùa Tướng, tượng Pháp Điện từ chùa Dàn tụ về chùa Dâu, rồi cùng kiệu Pháp Vân đi đến chùa Tổ thăm mẹ Man Nương.

Theo ghi chép trong sách sử, bia đá, chùa Dâu là ngôi chùa Phật giáo cổ nhất Việt Nam, được xây dựng từ thế kỉ thứ 2 dưới thời Sĩ Nhiếp làm thái thú. Chùa Dâu còn có tên là chùa Diên Ứng, thờ nữ thần Pháp Vân nên còn gọi là chùa Pháp Vân, và nằm trong vùng đất Cổ Châu nên cũng gọi là chùa Cổ Châu. Chùa gắn liền với truyện cổ tích Tứ pháp của người Việt xưa.
.
Lịch sử chùa Dâu gắn liền với huyền thoại Man Nương, người trinh nữ làng Mãn Xá bên sông Đuống từ lúc 12 tuổi đã bỏ từ bờ Nam sang bờ Bắc để học đạo với Thiền sư Khâu-đà-la người Thiên Trúc (Ấn Độ) ở chùa Linh Quang (xã Phật Tích, Tiên Sơn). Khâu-đà-la là một Thiền sư đã kết hợp việc truyền giảng Phật giáo Mật Tông với tín ngưỡng dân gian, nên có ảnh hưởng rộng lớn trong cư dân Luy Lâu. Nhưng con đường học đạo của Man Nương bị dở dang vì một hôm, lúc nàng đang ngủ, Khâu-đà-la sau giờ hành lễ đã bước qua người nàng khiến nàng thụ thai.

Một năm hai tháng sau, nhằm ngày 8-4 (âm lịch), Man Nương sinh một bé gái và mang trả cho Thiền sư, Khâu-đà-la bồng đứa bé đến một cây đa cổ thụ ven sông, niệm thần chú. Khi nhà sư dùng thiền trượng gõ vào, gốc cây nứt ra đứa bé được đặt vào, vết nứt liền khép lại và một mùi hương thơm ngát tỏa ra. Kỷ vật cuối cùng mà Thiền sư trao cho Man Nương là cây thiền trượng. Theo lời dặn của Khâu-đà-la, mỗi khi trời hạn hán, đất đai khô nẻ, mùa màng thất bát, Man Nương cắm cây thiền trượng xuống đất cất lời cầu nguyện, thì phép màu lại hiện ra: trời đổ mưa.

Một đêm mưa to gió lớn, cây đa cổ thụ nơi gửi xác đứa con gái của Man Nương bỗng đổ xuống sông và xuôi theo dòng nước trôi về làng Dâu. Dân làng không ai khiêng nổi cây, may có Man Nương dùng dải yếm đào kéo được cây lên bờ. Đêm ấy dân làng được thần nhân báo mộng khuyên nên đem cây tạc tượng thờ. Từ đó ra đời 4 pho tượng thờ 4 vị nữ thần Mây, Mưa, Sấm, Chớp: Pháp Vân (tức bà Dâu, thờ ở chùa Thiền Định), Pháp Vũ (tức bà Đậu), thờ ở chùa Thành Đạo), Pháp Lôi (tức bà Tướng, thờ ở chùa Phi Tướng), Pháp Điện (tức bà Dàn, thờ ở chùa Phương Quang).

Từ câu truyện cổ đó, đã tạo nên một hệ thống chùa Tứ Pháp rất đặc biệt của riêng người Việt: chùa thờ Nữ thần nông nghiệp, thờ người Mẹ Việt, lấy tượng Nữ thần làm trung tâm chứ không phải là tượng Phật. Phật và Nữ thần hòa quyện, bà mẹ của các Nữ thần cũng được tôn là Phật Mẫu Man Nương.

Nghi thức ngày hội

Huyền thoại Man Nương, người mẹ đồng trinh trở thành Phật Mẫu sinh ra Tứ Pháp đã khiến hàng năm vào ngày 8-4 (âm lịch), các vị sư tăng và khách thập phương về chùa Dâu mở hội như câu thơ trên đã nói. Hội chùa Dâu không chỉ là dịp để các Phật tử hành hương về nơi cửa Phật mà còn để tham dự những nghi thức văn hóa của cư dân nông nghiệp. Hội diễn ra khắp cả tổng với đám rước tưng bừng (gồm rước chào, rước đón, rước đưa) thỉnh các tượng bà Đậu, bà Tướng, bà Dàn về quy tụ với chị cả là bà Dâu ở chùa Diên Ứng. Trong bốn chị em, Pháp Điện trẻ nhất lại ở xa nhất, vì vậy bao giờ cũng phải đi sớm hơn, nhưng bao giờ cũng đến chùa Dâu trước tiên. Còn khi đã gặp chị cả Pháp Vân ở chùa Dâu, thì phải theo thứ tự mà về thăm mẹ. Vì vậy xưa kia sân phía trước chùa rất rộng mới đủ chỗ cho các cỗ kiệu và nghi trượng, tam quan ở tận bến sông Dâu.

Ban ngày rước Tứ Pháp về chùa Dâu “công đồng” là hội tụ các yếu tố Mây, Sấm, Chớp, Mưa. Ban đêm rước Tứ Pháp đi “tuần nhiễu” một vòng khép kín từ đông sang tây là mô tả chu kỳ quả đất xoay tròn, tạo ra năm tháng, bốn mùa. Nghi thức “Múa gậy” trong ngày hội không chỉ để dẹp đám, mà nghi thức đó còn là hình thức tái diễn sự tích cây gậy thần kỳ. Giếng cổ trong chùa là dấu vết Man Nương cắm gậy xuống đất làm ra nước cứu sống sinh linh.

Hội Dâu còn có một sự kiện đặc biệt mà không nơi nào có, đó là cuộc thi “Cướp nước”. Đây là cuộc thi chạy giữa bà Sấm (Pháp Lôi) với bà Mưa (Pháp Vũ). Người ta bói xem ai về đích trước để dự báo mùa màng. Nếu là bà Mưa thì năm ấy được mùa. Nếu là bà Sấm thì năm ấy ruộng đồng lắm sâu, nhiều đỉa, làm ăn trắc trở.

Tương truyền thời xưa các vị vua triều Lý ngày xưa thường rước Phật Pháp Vân về Kinh đô Thăng Long làm lễ “cầu đảo”. Sau lễ múc nước, dâng nước và múa gậy, đám rước lại thỉnh 4 tượng về bái vọng Phật Mẫu Man Nương ở chùa Tổ Mãn Xá. Trước kia, mỗi khi Hội Dâu rước phật vào ngày hội, trên bãi chùa Dâu người ta có thể xem múa sư tử, múa hóa trang rùa và hạc, múa trống, đấu vật, đánh cờ người.

Kiến trúc độc đáo

Vốn là một ngôi đền mang tên Pháp Vân, chùa Dâu đã được sửa chữa và trùng tu nhiều lần: giữa thế kỷ XIII vào đời Lý, cuối thế kỷ XIII và thế kỷ XIV vào đời Trần, thế kỷ XVIII vào đời Lê, cuối thế kỷ XIX vào đời Nguyễn. Ngôi chùa ngày nay còn mang nhiều dấu ấn của kiến trúc thời Hậu Lê. Ông Mạc Đĩnh Chi đã đứng ra tổ chức trùng tu lớn ngôi chùa vào năm 1313 như Đại Nam Nhất Thống Chí đã ghi lại: “Đời Trần, Mạc Đĩnh Chi dựng chùa trăm gian, tháp 9 tầng và cầu 9 nhịp, nền cũ nay vẫn còn”. Chùa làm theo kiểu “Nội công ngoại quốc”. Từ tiền đường, đi qua một sân gạch có tháp Hòa Phong ở giữa, sẽ đến Đại bái đường và Phật điện, sau lưng là Hậu đường. Tất cả nằm giữa bốn dãy nhà dài vây quanh theo hình chữ “Quốc”. Trong Phật điện, tượng bà Pháp Vân thờ ở gian giữa cao gần 2m ngồi trên tòa sen. Đặt liền hai bên tượng bà Pháp Vân là tượng Kim Đồng và Ngọc Nữ cao 1,57m mang đặc trưng phong cách nghệ thuật điêu khắc thế kỷ XVII - XVIII.

Bao quanh tòa điện chính chữ công là những dãy nhà ngang, nhà dọc vây kín theo kiểu nội công ngoại quốc. Chính giữa sân chùa trước bái đường, được Thiền sư Pháp Hiền xây dựng vào cuối thế kỷ VI để giữ gìn các di tích xá lợi, tháp Hòa Phong vốn có 9 tầng. Nay tháp chỉ còn 3 tầng, tháp cao 17m, tầng chân tháp hình vuông mỗi cạnh 7m, tường dày, trổ 4 cửa vòm cuốn. Hai cửa chính nhìn ra hướng Đông và hướng Tây có bậc cấp lên xuống. Hai bên bậc cấp là hai con sóc đá trong tư thế nằm dài từ thềm xuống sân mang phong cách rất gần với điêu khắc cổ Chăm-pa và điêu khắc thú tượng trưng trong kiến trúc lăng mộ đời nhà Tùy. Tháp Hòa Phong được trùng tu năm 1737 vào đời Lê. Trong tháp có chuông lớn đúc dưới triều Cảnh Thịnh và khánh lớn bằng đồng đúc năm 1837 dưới triều Minh Mạng.

Ngôi tháp vuông xây bằng gạch trần mộc to bản, dáng chắc khỏe nổi bật giữa khung cảnh xung quanh. Tháp tượng trưng cho ngọn núi vũ trụ, bốn góc tháp có bốn tượng Thiên vương trấn giữ, trên tháp treo một khánh đồng cổ. Tháp Hòa Phong được xây cao với vai trò như một thạch trụ chặn cản luồng gió nghiệp chướng từ cõi vô minh thổi tới.

Dưới chân tháp Hòa Phong có một bức tượng cổ hình một con cừu đá nằm quỳ hai chân trước, được tạc từ gần 2.000 năm trước. Chính điện chùa Dâu là pho tượng lớn và đẹp nhất là bà Dâu - nữ thần mây Pháp Vân. Pho tượng màu gụ, được ngồi trên tòa sen như tượng Phật, nét mặt như một người mẹ hiền từ nhìn xuống, bàn tay phải đưa ra như vỗ về an ủi, tay trái đặt trong lòng. Bốn phía tòa sen có các vòng sắt để có thể di chuyển tượng trong ngày lễ hội. Tượng được phủ lớp áo vàng, ngày hội khi làm lễ tắm tượng mới thay áo. Phía trước là nơi đặt Thạch Quang Phật, bàn thờ trước nữa là người em hai Pháp Vũ. Nguyên chùa Đậu bị phá thời Pháp, người dân đem tượng Pháp Vũ về thờ chung với chị tại chùa Dâu.

Trải qua bao thăng trầm của lịch sử nhưng chùa Dâu trên đất Luy Lâu với những tích cổ và tín ngưỡng thờ Tứ Pháp vẫn tồn tại như một minh chứng cho một vết tích nền nông nghiệp hết sức phát triển ở khu vực hạ lưu sông Hồng. Mặt khác đây còn là nét đặc sắc trong tín ngưỡng thờ thần của người Việt, là minh chứng cho những giai đoạn hoàng kim của Phật giáo tại Việt Nam.

Du lịch, GO! - Theo báo Daidoanket, ảnh internet

Thứ Bảy, 25 tháng 6, 2011

Hành trình thăm chùa Bái Đính và hang động Tràng An

Chùa Bái Đính là tên ngôi chùa nằm trên núi Bái Đính ở Xã Gia Sinh, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình. Chùa cách đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng và vua Lê Đại Hành 6km, cách thủ đô Hà Nội gần 100 km. 

Đây là ngôi chùa lớn nhất Việt Nam với nhiều kỷ lục trong nước và khu vực Đông Nam Á.

Chùa Bái Đính là một công trình Phật giáo được xây dựng do một nhóm tư nhân và các quỹ hảo tâm và từ thiện đống góp. Nơi đây không chỉ là một khu chùa thờ Phật tổ, thờ thần núi và chúa thượng ngàn mà còn gắn với lễ tế cờ khi vua Quang Trung ra Thăng Long đại phá quân Thanh. Ngôi chùa được phát hiện do đức thánh Nguyễn Minh Không (1065 – 1141) là người đã biến các hang động thành chùa khi đến đây tìm cây thuốc chữa bệnh hoá hổ cho vua Lý Thần Tông.

< Cổng Tam quan.

Đây là công trình lớn nhất Việt Nam được xây dựng và dự kiến hoàn thành vào năm 2010  nhân kỷ niệm 1000 năm vua Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long. Trong lịch sử vùng đất Ninh Bình, từ thời nhà Đinh, nhà Tiền Lê đã rất quan tâm đến Phật giáo và cho xây dựng nhiều  ngôi chùa. Do đó việc xây dựng một ngôi chùa lớn nhất Việt Nam ở Ninh Bình có ý nghĩa rất lớn.

Chùa Bái Đính mới gồm các hạng mục chính: tam quan nội, hành lang La Hán, Tháp chuông, chùa Pháp chủ, Điện tam thế và khu chùa cũ.

Bước vào chùa là cổng tam quan, đây là lối kiến trúc thường thấy trong các ngôi chùa ở Việt Nam. Tam quan nội của chùa Bái Đính là công trình được xây dựng bằng gỗ tứ thiết, có 4 cột lớn nặng 10 tấn. Tam quan có 3 tầng mái uốn cong, lợp men Bát Tràng, màu nâu sẫm. Trong tam quan có 10 tượng hộ pháp lớn bằng đồng, trong đó nổi bật là 2 tượng lớn cao 5,5m, nặng 12 tấn.

Qua tam quan, dọc theo con đường vào tháp chuông là hành lang La Hán. Trong dày hàng lang đặt 500 vị La Hán bằng đá, mỗi tượng có một tư thế và hình dáng khác nhau, được đúc bằng đá nguyên khối to, mỗi tượng cao khoảng 2,4m, nặng khoảng 4 tấn do bàn tay các nghệ nhân làng đá xã Ninh Vân – Hoa Lư – Ninh Bình chế tác. Chùa Bái Đính là ngôi chùa có nhiều tượng La Hán nhất Việt Nam.

Từ  hành lang La Hán là đến tháp chuông. Tháp có kiến trúc cổ, hình bát giác, cao 3 tầng, mái cong gồm 24 mái đao vút lên ở tám phía với các đầu đao. Trong tháp có treo một quả chuông năng 36 tấn được coi là quả chuông lớn nhất Việt Nam.

Điện pháp chủ uy nghiêm,  đồ sộ được xây dựng bằng bê tông cốt thép giả gỗ với 2 tầng mái cong có 8 mái ở 4 phía. Điện có 5 gian, gian giữa đặt một pho tượng lớn bằng đồng nguyên khối cao 10m, nặng 100 tấn. Pho tượng đã được công nhận “Pho tượng Phật Thích Ca bằng đồng cao và nặng nhất Việt Nam”. Trong điện treo 3 bức hoành phi và 3 cửa võng. Đây là bức hoành phi và cửa võng lớn nhất Việt Nam.

Tọa lạc trên ngọn đồi cao là Điện Tam Thế. Điện có 3 tầng mái cong với 12 mái ở 4 phía, cao 34m dài 59,1m, rộng 40m, diện tích trong nhà khoảng 3000m2. Bốn phía nền của điện Tam Thế đều xây các tường đá tam cấp theo độ dốc của đồi với nhiều bậc đá đi lên tạo một không gian rộng, nghiêm trang và linh thiêng khi bước lên Điện.

Trong điện Tam Thế đặt 3 pho tượng tam thế bằng đồng đại diện cho quá khứ, hiện tại và tương lai, mỗi tượng nặng 50 tấn. Đây là bộ tượng tam thế lớn nhất Việt Nam mới chi có ở chùa Bái Đính.

Đối lập với vẻ uy nghi, đồ sộ của khu chùa mới, từ Điện Tam Thế đi qua bên núi là chùa Bái Đính cũ vẫn tĩnh mịch, trầm mặc và hoang sơ. Bước đến bậc đá đến chùa cũ, du khách nhớ lại câu chuyện thiền sư Nguyễn Minh Không vào núi Bái Đính tìm thuốc chữa bệnh cho vua Lý Thần Tông bị hóa hổ. Thiền sư đã phát hiện động Tối, động Sáng, Thung Thuốc trên núi nên đã biến động thành chùa thờ Phật. Bên động Tối, động Sáng gồm nhiều hang nhỏ thông nhau và trong động thờ Mẫu Thượng Ngàn.

Cách chùa Bái Đính không xa là hang động Tràng An. Từ khu du lịch tâm linh,  đi tiếp hành trình đến khu du lịch sinh thái sẽ thấy thư thái khi thả hồn mình trên dòng sông thơ mộng.  Tại đây, du khách ngồi trên thuyền, đi dạo một vòng quanh hang động sẽ như thấy mình lạc vào cõi tiên, bỏ lại những lo toan, vướng bận của cuộc sống thường ngày.

Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ, Khu du lịch sinh thái Tràng An có khoảng hơn 310 loại thực vật bậc cao, nhiều loại rêu tảo và nấm. Trong đó, một số loài gỗ thuộc diện quý hiếm như: sưa, lát, nghiến cùng nhiều loài cây có giá trị cao được sử dụng làm thực phẩm, làm thuốc chữa bệnh như: hoài sơn, kim ngân, bách bộ, rau sắng, …  Ngoài ra, còn có khoảng 30 loài thú, hơn 50 loài chim, hàng chục loài bò sát, có một số loài thú quý hiếm như: sơn dương, báo gấm, chim phượng hoàng…

Tràng An có gần 50 hang động dài từ vài chục mét đến hàng trăm mét. Các hang động được nối với nhau bởi gần 30 thung, mỗi thung là một bức tranh thủy mặc. Các thung đều thông nhau bởi các động xuyên thủy khiến núi non gắn bó, làm nên một dáng vẻ sống động. Những nhũ đá lấp lánh, được tạo hóa khéo sắp đặt, muôn hình vạn trạng trên vách hang, tạo nên những kỳ quan sinh động, để du khách phát huy trí tưởng tượng đặt tên cho các nhũ đá.

Giống như những cái tên hang, động của Vịnh Hạ Long, Tràng An có những cái tên lạ mà khơi dậy chí tưởng tượng và sự tò mò của du khách như: hang Seo lớn, hang Si, hang Ao Trai, hang Sính, hang Nấu Rượu, hang Địa Linh, hang Ba Giọt, hang Sáng, hang Tối, thung Láng, thung Mây, thung Trần, thung Khống, núi Vua, núi Chúa, núi Ông Trạng... Với những dải đá vôi, thung lũng và hệ thống sông ngầm đan xen tạo một không gian huyền ảo,thơ mộng, sơn thủy hữu tình như níu kéo bước chân du khách trên mảnh đất này!

Đến thăm chùa Bái Đính, du khách không khỏi ngạc nhiên trước vẻ hùng vĩ của núi rừng, sự linh thiêng của đất Phật và sự kỳ vĩ của những tuyệt tác kiến trúc mà con người tạo dựng nên nơi đây.

Du lịch, GO! - Theo Lenduong, ảnh internet

Thứ Sáu, 24 tháng 6, 2011

Đình Phú Nhiêu, Hà Nội

Từ nghìn năm trước, nhân dân Phú Nhiêu về đây quần cư, tụ họp, bồi đắp dần từ 99 cái đường gò trôi nổi trên cánh đồng chiêm trũng Phú Xuyên thành những xóm làng trù phú, những cánh đồng phì nhiêu.

Mảnh đất an cư lạc nghiệp ấy mang hình dáng con trâu. Khu đình làng được tọa lạc trên đầu con trâu ấy. Đó là một khuôn viên có cảnh quan đẹp giữa mặt làng, có dòng sông êm trôi, có cánh đồng bát ngát.

Với tổng diện tích 1.548m², trong đó đất sử dụng xây các hạng mục đình là 627m², gồm 3 tòa nhà đại bái, trung cung, hậu cung, giữa sân đình là một tòa nhà cao tám mái, tạo thành thế kiến trúc hài hòa, bề thế, khang trang, lung linh soi bóng nước. Đúng như bức đại tự xưa có ghi 4 chữ “cận thủy lâu đài”, từ hàng trăm năm nay vẫn lung linh đứng đó với “sân đình, bến nước, cây đa”.
.
Đình Phú Nhiêu được xây dựng từ rất lâu đời, trải qua nhiều biến thiên của lịch sử và thời gian tàn phá nhưng đã được nhân dân xây dựng, tôn tạo lại nhiều lần. Hiện tại khu đình có quy mô xây dựng theo hình chữ tam, còn giữ được nhiều cấu kiện kiến trúc chạm khắc độc đáo thuộc giai đoạn cuối Lê, đầu Nguyễn (thế kỷ 17 đến 19).

Tòa đại bái, đình ngoài, là một nét ngang của chữ tam, dài 7 gian, với hai mái chảy, lợp ngói mũi nhỏ. Hai đầu bờ nóc đắp bờ đinh, hoa văn tàu lá giắt. Suốt dọc đình nóc đắp lớp lớp “bích vân”, biểu tượng của những đám mây, cầu cho mưa thuận, gió hòa, mùa mùa bội thu. Hai đỉnh đầu hồi đắp long phượng giao thoa, ngũ phúc hài hòa, cầu mong cho dân làng hạnh phúc, thuận hòa. Bên dưới đắp nổi hai voi chiến, có cung tên, có búa sắt, cờ lệnh sẵn sàng ra trận chiến đấu.

Trung cung, là một nét ngang giữa của chữ tam, ba gian hẹp, bên trong làm theo kiểu cuốn vòm, hai bộ vì kèo cũng được làm theo kiểu cánh cung ăn theo mái cuốn vòm, gối vào hai đầu cột chung với đại bái và hậu cung. Dưới hai bức thuận đắp nổi “Tây Phương bạch hổ cầu vào làng ta” và “Thanh Long uốn khúc chầu vào làng ta...”

Hậu cung, cao rộng hơn đại bái, cũng gồm 7 gian. Đây là nơi thờ tự chính của ngôi đình, được xếp thứ tự từ trong trở ra là cung đệ nhất, đệ nhị, đệ tam... đến tòa đại bái... như một tiểu cung đình thờ vua chúa ngày xưa.

Tuy là ba mái, tam cung nhưng nhìn bên ngoài, bên trong vẫn liền một khối, trên mặt bằng gần như hình vuông, mỗi cạnh trên dưới 20m, khá rộng rãi, thông thoáng đủ cho cả làng tụ họp trong những ngày họp việc làng và những ngày lễ hội lớn mà dân làng gọi là ngày “Đại kỳ phước” từ ngày 15-8 đến ngày 18-8 hàng năm, để tôn vinh vị Thành hoàng làng là “Trung thành đại vương thượng đẳng phúc thần” từng cùng “Tản Viên Sơn thánh” giúp vua Hùng Duệ Vương đánh giặc giữ nước Văn Lang.

Liên quan tới đình còn có miếu và chùa Phú Nhiêu, hình thành một cụm di sản văn hóa vật thể vô giá, với nhiều kiến trúc độc đáo, hiếm có. Do đó, cụm di tích đình, miếu, chùa Phú Nhiêu đã được UBND tỉnh xếp hạng lịch sử văn hóa của tỉnh, cuối năm 2004. Đây là vinh dự, tự hào và trách nhiệm của cán bộ, nhân dân Phú Nhiêu, một Làng văn hóa được tỉnh công nhận lần thứ 2.

Du lịch, GO! - Theo Tourdulich, ảnh 1000namthanglong, Vietnamnet

Thứ Tư, 22 tháng 6, 2011

Cụm di tích xã Tiên Luc và Cây Dã hương ngàn năm tuổi

Cụm di tích Tiên Lục gồm có: Cây Dã Hương ngàn năm tuổi, đình Viễn Sơn(đình Giữa) chùa Quang Phúc, đền Thánh Cả(đền Tiên Lục), đình Thuận Hoà(đình Cây Bàng). Năm 1989 toàn bộ cụm di tích Tiên Lục đã được Nhà nước công nhận là di tích lịch sử văn hóa; Kiến trúc- Nghệ thuật cấp quốc gia.

Trong hành trình thăm quan các khu, điểm du lịch trên địa bàn tỉnh Bắc Giang có lẽ du khách không thể bỏ qua một trong những khu, điểm du lịch có tính chất đặc trưng và nổi trội nhất của huyện Lạng Giang, đó là Cụm di tích Tiên Lục. Cụm di tích nằm cách thành phố Bắc Giang khoảng 20 km về phía Đông Bắc. Đây là một trong những điểm dừng chân lý tưởng cho các đoàn khách đến tham quan, nghiên cứu học tập và tìm hiểu về những giá trị lịch sử văn hoá, kiến  trúc nghệ thuật và các lễ hội đặc sắc trên vùng quê giàu truyền thống văn hoá này.
.
Cụm di tích Tiên Lục là một quần thể di tích hoàn chỉnh và nằm trong một không gian thoáng đãng, thơ mộng của một vùng trung du tràn đầy sức sống. Cụm di tích Tiên Lục gồm có: Cây Dã Hương ngàn năm tuổi, đình Viễn Sơn(đình Giữa) chùa Quang Phúc, đền Thánh Cả(đền Tiên Lục), đình Thuận Hoà(đình Cây Bàng). Năm 1989 toàn bộ cụm di tích Tiên Lục đã được Nhà nước công nhận là di tích Kiến trúc- Nghệ thuật cấp quốc gia.

Điểm đến thứ nhất là Cây Dã hương và Đình Viễn Sơn:  Có lẽ khi nói tới cây cổ thụ ở Việt Nam thì không thể không nói đến cây Dã hương của Xã Tiên Lục huyện Lạng Giang tỉnh Bắc Giang. Đây là một cây đại thụ đã nổi tiếng trong và ngoài nước. Theo lời kể  của các cụ cao niên trong thôn và căn cứ theo các cứ liệu lịch sử thì cây đã có cách chúng ta một ngàn năm về trước. Cây Dã hương mọc trên sườn đồi ở đầu xóm Tây và nằm kề ngay đình Viễn Sơn tạo nên một bức tranh phong cảnh của một làng quê đầy cổ kính.

Cây Dã hương Tiên Lục là biểu tượng cho một sức sống  trường tồn của dân tộc, cây Dã hương quanh năm xanh tốt, người ta ví màu xanh đó như là lá phổi của Tiên Lục, những tán lá rộng như những bàn tay che chở cho người con Tiên Lục. Đặc biệt khi xuân về cây lại cho hoa cho lộc, chim chóc từ mọi nơi bay về nô đùa, trú ngụ rồi làm tổ ấm trên cây. Nếu ai đó muốn tận hưởng hương thơm của loài hoa Dã hương thì hãy đến đây vào ban đêm, khi màn đêm buông xuống là lúc hoa dã hương bắt đầu toả hương thơm ngát làm đắm say lòng người.

Cây Dã hương Tiên Lục với đặc điểm là phần gốc to khoảng 5 đến 6 người ôm, cây cao khoảng 30m, chu vi thân chỗ to nhất là 13,5m, chu vi cành lớn nhất 3,5m. Hiện nay cây đã bị thông tâm, người ta đo chu vi chỗ rỗng nhất khoảng 11,5m. Cách gốc cây khoảng 1m có một hốc cây đã bị rỗng, độ rỗng cho phép thân người lớn có thể chui vào được, khi chui qua hốc cây nhìn từ dưới lên trên ngọn cây trông giống như một hang động thu nhỏ.

Trải thời gian hàng ngàn năm lịch sử vật đổi sao rời nhưng cây Dã hương vẫn đứng giữa không gian và thời gian như để minh chứng thêm cho sức sống bền bỉ của mình. Hình ảnh cây Dã hương có phần huyền bí hơn khi cây Dã luôn xuất hiện như một sự trùng hợp ngẫu nhiên với các sự kiện trọng đại của đất nước, cụ thể là: năm 1945 một cành to ở phía Đông Bắc bị gãy thì Cách mạng tháng 8 thành công, năm 1954 một cành ở phía Tây gãy sau đó là chiến thắng Điện Biên Phủ, năm 1964 một cành phía Bắc bị gãy thì Mỹ xâm lược miền Bắc. Đặc biệt gần đây vào năm  2006 một cành ở đỉnh ngọn cây bị gãy thì đến tháng 11 năm 2006  cả nước Việt Nam nô nức đón mừng sự kiện Việt Nam gia nhập tổ chức WTO và là thành viên thứ 150 của tổ chức này.

Có thể nói cây  Dã hương Tiên Lục chính là một phần của sắc hương Việt Nam. Con đường từ Vôi đến Tiên Lục là do thực dân Pháp mở ra nhằm phục vụ  cho nhu cầu thăm quan cây dã. Trong ngọc phả cho biết cây dã hương đã nhận được sắc phong do Vua Cảnh Hưng ban tặng là “Quốc chúa đô mộc đại vương” có nghĩa là cây Dã lớn nhất nước. Năm 1938 cây dã hương đã được Trường Viễn đông Bắc cổ xếp vào loại cây cổ thụ hiếm có của Bắc Kỳ. Ngoài ra cây Dã hương Tiên Lục còn được ghi trong cuốn Bách khoa toàn thư của Pháp là một trong những cây lâu đời nhất thế giới ( theo tư liệu lý lịch di tích của Ban Quản lý Di tích Bắc Giang). Cây Dã hương là hình ảnh rất đỗi quen thuộc của dân làng Tiên Lục gợi nhớ đến quê hương đất nước “ cây đa, bến nước, sân đình” nếu một ai đó đi xa quê hương khi về đến đầu làng nhìn thấy cây Dã hương là ký ức về một làng quê, ký ức về thủa thơ ấu lại tràn về.

Đình Viễn Sơn: đình Viễn Sơn thuộc thôn Giữa, đình toạ lạc trên một sườn đồi thấp kế sát ngay bên là cây Dã Hương cổ thụ làm toát lên vẻ đẹp hài hoà của một không gian cổ kính, giữa cái vật chất hữu hình do con người tạo ra và giữa cái tự nhiên của thiên nhiên ban tặng. Đình Viễn Sơn được xây dựng vào thế kỷ XVIII (thời Lê), đình thờ 2 vị thành hoàng làng là Cao Sơn và Quý Minh. Theo sự tích thì đây là hai vị tướng từ thời Vua Hùng, hai vị đã có công trong các cuộc đánh giặc ngoại xâm đem lại sự yên bình cho đất nước, khi 2 vị thác đi luôn hiển thánh và phù hộ cho dân làng, xã tắc được an lành no ấm.

Đình Viễn Sơn được xây dựng theo lối kiến trúc hình chữ công chia thành 3 phần chính gồm có toà tiền đình, hậu cung và đình hậu. Đình Viễn Sơn là một ngôi đình có quy mô không lớn nhưng thay vào đó là sự nổi bật của nghệ thuật chạm khắc trong toàn bộ nội thất ngôi đình, đặc biệt là nghệ thuật chạm khắc ở phần tiền đình. Tất cả hệ mái bao gồm  các vì nóc, vì nách, đầu dư, cột cái, cột quân …đều được làm bằng gỗ lim chắc khoẻ. Các đề tài chạm khắc thể hiện trên trong nội thất ngôi đình cũng được các cổ nhân chạm khắc công phu kỹ càng đến từng chi tiết nhỏ và thực sự đã thổi hồn vào thớ gỗ tạo nên một  không gian thiêng cho di tích. Bên cạnh đó tại đình Viễn Sơn vẫn lưu giữ được các đồ thờ  có giá trị lịch sử và giá trị kiến trúc nghệ thuật như: kiệu, ngai thờ, bộ bát biểu, kiếm gỗ, nồi hương, mâm đồng…

Điểm đến thứ hai là Chùa Quang Phúc và Đền Thánh Cả: Chùa Quang Phúc và đền Thánh Cả toạ lạc trên đỉnh đồi thông. Đây là 2 di tích có vị trí nằm ở trung tâm của xã Tiên Lục và ngoảnh hướng Nam. Chùa Quang Phúc được xây dựng từ thế kỷ thứ XVIII(khoảng thời Lê- Mạc), chùa được xây dựng trên quy mô rộng và có kết cấu kiến trúc liên hoàn, toàn bộ tổng thể ngôi chùa gồm có 35 gian, chùa  được làm theo lối kiến trúc nội công ngoại quốc. Toàn bộ phần tiền đường, hai dãy hành lang, gác chuông nối lại thành hình chữ quốc, phần còn lại là toà thiêu hương nối với thượng điện thành hình chữ công.

Chùa Quang Phúc với chức năng chính là thờ phật, hiện nay trong chùa còn  lưu giữ được nhiều pho tượng cổ quý giá, hệ thống tượng phật trong chùa Quang Phúc được bày đặt  hợp lý và hoàn chỉnh, tượng phật được xắp xếp thứ tự từ thượng điện đến 2 dãy hành lang và bên dưới gác chuông, tất cả có khoảng 90 pho tượng. Với những giá trị nổi bật về kiến trúc của ngôi chùa cùng với hệ thống tượng phật đã tạo cho chùa Quang Phúc thêm phần thiêng liêng cổ kính. Nếu  du khách đứng giữa chùa quan sát, chiêm ngưỡng các pho tượng cổ du khách sẽ không khỏi ngạc nhiên và thán phục trước nghệ thuật tạc tượng hết sức điêu luyện của các tiền nhân, càng ngắm nhìn du khách sẽ ngỡ như mình đang được quay lại với những thời kỳ đã qua, thời kỳ đã cách chúng ta gần 300 trăm năm lịch sử. Hiện nay tại chùa Quang Phúc vẫn còn lưu giữ được một số di vật, cổ vật sau: thống, đôi lộc bình, hoành phi…

Cùng toạ lạc trên đồi Thông là đền Thánh Cả (đền Tiên Lục), đền nằm cách chùa quang Phúc khoảng 30m. Đền Thánh Cả cho đến nay vẫn chưa rõ niên đại xây dựng vào thời gian nào. Đền  là nơi thờ 2 vị thần Cao Sơn và Quý Minh và có sắc phong do Vua Lê Cảnh Hưng ban tặng. So với các di tích khác trong cụm di tích Tiên Lục thì đền Thánh Cả có quy mô xây dựng khiêm tốn nhất, nhưng đền Thánh Cả cũng là một phần không thể thiếu được trong cụm di tích Tiên Lục, đền xây dựng theo lối kiến trúc hình chữ đinh toà tiền tế gồm 3 gian kẻ truyền, phần hậu cung gồm 2 gian. Hiện nay đền Thánh cả còn lưu giữ được các di vật như: kiệu rước, hương án, cây đèn đồng, nồi hương, quán tảy…

Điểm đến thứ ba là Đình Thuận Hoà: Đình Thuận Hoà hay còn được nhân dân trong vùng quen gọi là đình Cây Bàng. Đình toạ lạc trên một khu đất rộng và bằng phẳng kế sát ngay đình là cây bàng cổ thụ um tùm quanh năm toả bóng mát, phía trước đình là đường 295 Vôi-Tiên Lục, đình cách đồi thông chừng hơn 100m. Đình Thuận Hoà được xây dựng vào khoảng thế kỷ thứ XVIII, đình thờ 2 vị thành hoàng làng là Cao Sơn và quý Minh. Đình Thuận Hoà có lối kiến trúc hình chữ đinh gồm 5 gian đại đình và 3 gian hậu cung. Cũng giống như đình Viễn Sơn, toàn bộ hệ mái của ngôi đình Thuận Hoà được làm bằng gỗ lim chắc khoẻ, các đề tài chạm khắc được bàn tay của các nghệ nhân thể hiện một  cách hết sức tài tình khéo léo điều đó được thể hiện ở trên các vì nóc, vì nách, các bức cốn mê, đầu dư… của ngôi đình. Hiện nay trong đình còn lưu giữ được nhiều đồ thờ có giá trị lịch sử như: 06 sắc phong thời Nguyễn, 03 ngai thờ, 01 bát hương thời Nguyễn…

Đến với Tiên Lục du khách không những được tham quan các di tích mà du khách còn được tìm hiểu về lễ hội truyền thống đặc sắc của người dân Tiên Lục. Lễ hội Tiên Lục là một lễ hội lớn của huyện Lạng Giang thu hút đông đảo nhân dân trong vùng và khách thập phương về dự. Lễ hội Tiên Lục được tổ chức một năm 4 lần vào 9. 1 Âm lịch, 20. 5 Âm lịch, 20. 8  Âm lịch và 20 tháng 11 Âm lịch hàng năm. Lễ hội Tiên Lục diễn ra ở 4 khu vực chính là đình Viễn Sơn, chùa Quang Phúc, đền Tiên Lục và nhà Thảo Xá. Trong phần  lễ có phần  tế lễ, khai thanh, tranh chiêng, tranh chống, yết lễ đền… trong phận hội có nhiều trò trơi dân gian độc đáo như đu, kéo co, chọi gà, cướp cầu. Đặc biệt trong các trò chơi được tổ chức trong lễ hội Tiên lục có  trò chơi “cướp cầu” thể hiện tính cộng đồng đoàn kết của người dân và còn thể hiện tư duy tín ngưỡng nông nghiệp của nhân dân Tiên Lục mong mùa màng được bội thu, nhân dân được no ấm, trẻ lớn ra, già trẻ lại…

Tựu chung lại sau khi du khách  thăm quan cây Dã hương ngàn tuổi cùng các di tích Kiến trúc- Nghệ thuật và được tìm hiểu về những lễ hội truyền thống trên mảnh đất Tiên Lục đã cho du khách thấy được toàn bộ những giá trị về sinh thái, lịch sử văn hoá, Nghệ thuật kiến trúc của toàn bộ di tích trong cụm di tích Tiên Lục. Khi ra về chắc hẳn mỗi du khách sẽ còn ấn tượng mãi với  hình ảnh cây Dã ngàn năm tuổi đang rủ bóng xuống ngôi đình Viễn Sơn, hình ảnh đồi thông xanh thắm đang vươn mình tô điểm cho chùa Quang Phúc, hình ảnh đầu đao cong vút của đình Thuận Hoà đang lấp ló dưới tán cây bàng cổ thụ...

Du lịch, GO! - Theo Edu.GO