Hiển thị các bài đăng có nhãn Xã xì trét. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Xã xì trét. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 29 tháng 7, 2011

Dinh thự của những ông vua bản Mường

Những cái tên Vương Chí Sình, Hoàng A Tưởng, Đèo Văn Long... "vua" bản mường một thời lừng lẫy dưới sự bảo hộ của thực dân Pháp. Sau Cách mạng Tháng 8/1945, những ông "vua" này không còn nhưng những dinh thự của họ vẫn còn đó.
.
Dinh thự nhà họ Vương

Ai đã từng đặt chân lên Đồng Văn (Hà Giang), nơi cực Bắc của Tổ quốc đều muốn ghé thăm dinh thự nhà họ Vương nằm dưới thung lũng Sà Phìn. Dinh thự được xây dựng từ thời Vương Chính Đức, một quan Bang tá do chính quyền bảo hộ dựng lên để cai quản vùng đất biên ải hiểm yếu bậc nhất Việt Nam.

Nằm trên con đường buôn bán thuốc phiện từ vùng Tây Nam Trung Quốc tới Miến Điện vào Việt Nam và các nước Đông Nam Á, Đồng Văn có độ cao trung bình trên một ngàn mét so với mặt nước biển, lại là vùng núi đá rất phù hợp với việc trồng cây thuốc phiện...

< Cửa vào tiền dinh.

Vương Chính Đức trở thành một mắt xích quan trọng trong đường dây buôn bán nha phiến, ông bỗng chốc trở nên giàu có và đầy quyền uy, tự phong là “vua” xứ Mèo Hà Giang.

Dinh thự nhà họ Vương được xây dựng cuối thế kỷ 19 do hơn 300 thợ dân tộc Hồi (Trung Quốc) xây dựng trên một gò đất hình mai rùa nằm giữa thung lũng Sà Phìn, do thầy địa lý Trung Quốc chọn. Nhà tựa vào lưng núi, mặt quay ra phía thung lũng xoải dài, phù hợp với thuyết phong thuỷ của người Tàu.


< Toàn cảnh nhà vua Mèo.

Kiến trúc của khu nhà mang đậm phong cách kiến trúc phong kiến Trung Hoa, bao gồm: Tiền đinh, trung đinh và hậu đinh. Nối ba lớp nhà hai tầng bằng gỗ, tường đất nện (kiến trúc của dân tộc Mông Dao, Pa Dí, Hà Nhì… vùng núi cao) là khoảng sân lát đá. Nơi ở của “vua” là ngôi nhà phía trong cùng tường xây bằng đá, phía sau có một đường hầm thoát hiểm. Các ngôi nhà đều lợp ngói âm dương, một số hoạ tiết trang trí là những bông hoa thuốc phiện, nhờ những bông hoa ấy mà Vương Chính Đức mới trở thành “vua Mèo” nơi vùng biên viễn. Xung quanh dinh thự là một lớp tường đá dày 0,8m có nhiều lỗ châu mai và chòi canh gác.

< Dinh thự nhà họ Vương trước khi trùng tu.

Về mặt quân sự, đây vừa là dinh thự nhưng cũng là pháo đài kiên cố khi có biến. Bởi khu dinh thự nằm dưới thung lũng mà xung quanh là núi đá, nếu những kẻ bên ngoài muốn tấn công, trước tiên phải vượt qua dãy núi đá tai mèo hiểm trở, từ dưới thung lũng lại dễ dàng quan sát được, nên mọi động tĩnh từ phía bên ngoài đều có thể phát hiện ra ngay. Do đó, mọi biến động bên ngoài, quân lính của nhà họ Vương kịp thời nắm bắt để báo cho ông chủ ứng phó.

< Mặt tiền dinh giữa.

Khi Vương Chính Đức mất trao lại quyền cho người con thứ tên là Vương Chí Sình. Cách mạng Tháng 8/1945 bùng nổ, quân của Vương Chí Sình đã phối hợp với quân của Mặt trận Việt Minh đánh đuổi quân Pháp chạy khỏi Hà Giang. Sau ngày Cách mạng thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh mời Vương Chí Sình tham gia Quốc hội khoá I và kết nghĩa làm anh em, đổi tên cho ông là Vương Chí Thành, tặng ông thanh bảo kiếm, ngoài vỏ khắc 8 chữ: "Tận trung báo quốc/ Bất thụ nô lệ".

Dinh thự Hoàng A Tưởng

Dinh thự Hoàng A Tưởng nằm ở thị trấn Bắc Hà, tỉnh Lào Cai, trên đường lên Si Ma Cai. Hoàng A Tưởng là người Tày nhưng cai trị ở địa phương có trên 80% dân số là dân tộc Mông, nên được mệnh danh là “vua Mèo”. Hoàng A Tưởng là con Hoàng Yến Chao - Thổ ty vùng cao nguyên Bắc Hà. Trước ngày Lào Cai được giải phóng (11/1950), Bắc Hà không chỉ là con đường tơ lụa nối với Vân Nam qua vùng Trung Á, mà Bắc Hà còn là nơi trung chuyển thuốc phiện từ Trung Á qua Đông Dương xuống khu vực Nam Á và ngược lại. Cao nguyên Bắc Hà trước đây nổi tiếng là vùng cây thuốc phiện, thuế bổ xuống đầu dân bằng thuốc phiện. Sử sách còn ghi, mỗi năm Bắc Hà thu thuế từ 1,8-2,25 tấn thuốc phiện, riêng Hoàng A Tưởng mỗi năm thu không của dân 500 kg thuốc phiện, ép dân bán rẻ 500 kg, đứng đầu đường dây buôn bán thuốc phiện và hàng hoá xuyên Á qua ngả Bắc Hà.

Dinh thự Hoàng A Tưởng quay hướng đông nam, lưng tựa vào núi Cô Tiên, đúng theo thuyết phong thuỷ của người Tàu “Tựa sơn đạp thuỷ”, thế rất vững chãi. Kiến trúc của khu dinh thự kết hợp giữa lối kiến trúc cổ của Pháp thế kỷ 17-18 với kiến trúc nhà sàn của người Tày, rất hài hoà nổi lên giữa vùng núi non hùng vĩ. Cửa nhà vòm cuốn, đắp nổi nhiều hoạ tiết dây lá nho, tường gạch nung, móng đá, mái lợp ngói âm dương. Cầu thang đi phía sau nhà, dưới cầu thang là bể hứng nước mưa, trong các phòng đều có lò sưởi.

Chính giữa là ngôi nhà lớn hai tầng, sàn gỗ, gian chính diện là phòng làm việc, tiếp khách, kế bên là nơi ở của vợ chồng, con cái Hoàng A Tưởng, hai dãy nhà ngang tả-hữu cũng là nhà hai tầng nhưng thấp hơn, đó là nơi ở của các gia nô, binh lính và người giúp việc. Hai ngôi nhà ngang được nối với ngôi nhà chính bằng một hành lang hẹp, các cửa đều quay ra cái sân rộng, nơi Hoàng A Tưởng thường tổ chức múa xoè khi tiếp các quan Pháp, hoặc những nhà buôn và khi lễ Tết.

Xung quanh dinh thự là tường đá bao quanh có lỗ châu mai, mặt tiền là cầu thang hình vòng cung đi lên từ hai phía, trước khi bước vào dinh thự, khách phải dừng chân ở phòng chờ có lính canh gác trước một cánh cửa gỗ nặng trịch dày gần một gang tay.

Trên tường mặt tiền đắt nổi những khẩu pháo, nhằm phô trương sức mạnh và thị uy những ai khi bước chân vào dinh thự. Dinh thự của Hoàng A Tưởng xây dựng trong vòng 8 năm trời (1914-1921), vật liệu bao gồm: Đá, vôi, cát, mật mía khai thác tại địa phương còn xi măng, sắt thép thì được chở bằng máy bay và ngựa thồ từ Hà Nội và Lào Cai lên.

Sau chiến tranh biên giới tháng 2/1979, tôi đã nhiều lần ngủ trong khu dinh thự này, những cây hoa mộc sau nhà thơm thoảng, nhiều đêm thức giấc nhìn ra ngoài trời sương đêm bảng lảng, tôi có cảm giác những oan hồn mà cha con Hoàng A Tưởng giết hại vẫn lẩn khuất đâu đây.

Dinh thự Đèo Văn Long

Dinh thự Đèo Văn Long nằm ở ngã tư nơi gặp nhau của con sông Đà, sông Nậm Na và suối Nậm Lay. Trước kia thuộc phường Lê Lợi, thị xã Lai Châu (cũ) sau khi tách Lai Châu thành hai tỉnh Lai Châu và Điện Biên, dinh thự Đèo Văn Long thuộc xã Lê Lợi, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu.

Theo các tài liệu, Đèo Văn Long là con của Đèo Văn Trị, cai quản mười hai xứ Thái (Sipsong Chuthai). Cuối thế kỷ 19, Đèo Văn Trị hưởng ứng Hịch Cần Vương, lãnh đạo sắc tộc Thái và một số dân tộc khác vùng Lai Châu nổi dậy chống Pháp. Sau bị dụ dỗ, Đèo Văn Trị đầu hàng Pháp, mở đường cho chúng tiến vào Mường Thanh, được Pháp khôi phục quyền cai trị vùng đất Sipsong Chuthai bên bờ sông Đà, cho phép cha truyền con nối.

Được sự hỗ trợ của Pháp, Đèo Văn Long lên nắm quyền cai trị thay cha, ra sức vơ vét của cải, buôn bán thuốc phiện, lâm thổ sản, hàng hoá, tổ chức những đoàn thuyền lớn lấy sông Đà làm tuyến giao thông chính giao thương với vùng đồng bằng sông Hồng, trở thành người giàu có nhất vùng.

Dinh thự Đèo Văn Long được xây dựng tại nơi 3 con sông gặp nhau, một vị trí hiểm yếu, sau lưng là núi cao trước mặt là sông rộng, ở vị trí yết hầu đó có thể khống chế được con đường lên Phong Thổ, Sa Pa, Mường Tè và xuôi về Hoà Bình cũng như qua ngả Điện Biên sang Lào. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Đèo Văn Long mang vợ con chạy sang Pháp. Dinh thự của Đèo Văn Long không có người ở, lâu ngày đã bị đổ nát, trở thành phế tích.

< Một phần dinh thự Đèo Văn Long ngày nay được làm trường học.

Những gì còn sót lại cho thấy kiến trúc của khu nhà là kết hợp giữa kiến trúc nhà sàn của người Thái với kiến trúc của người Pháp. Khu nhà chính được xây hai tầng bằng gạch đỏ, sàn gỗ, xung quanh ngôi nhà chính là những khu nhà nhỏ dành cho người ở và binh lính, xung quanh là tường bao xây bằng gạch và đá dày trên 40cm, có nhiều lỗ châu mai, cao trên 3m. Trước khu nhà có sân rộng để múa xoè khi tổ chức tiệc tùng. Mái lợp ngói tách ra từ những phiến đá, người dân gọi là đá giấy, lúc mới tách đá mềm có thể dùng dao cắt được, nhưng khi gặp nắng đá trở nên cứng như sành.

Trước đây, tỉnh Lai Châu có dự kiến trùng tu dinh thự Đèo Văn Long, nhưng khi triển khai công trình thuỷ điện Sơn La, thì toàn bộ khu dinh thự Đèo Văn Long sẽ bị ngập dưới lòng hồ. Sau tháng 10/2010, khi nước hồ Sơn La dâng thì toàn bộ khu dinh thự của ông “vua Thái” đều nằm dưới thủy cung.

Du lịch, GO! - Theo Nông Nghiệp VN, internet

Thứ Tư, 27 tháng 7, 2011

Có một Thiếu Lâm Tự kỳ bí ở vùng Đồng Tháp Mười

Ngôi chùa ấy nằm trong hẻm sâu, giữa khu dân cư nghèo thuộc vùng Đồng Tháp Mười “muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lềnh như bánh canh”. Ngôi chùa ấy do một vị Đại đức trụ trì, cùng sự giúp việc của một đệ tử trẻ.

Ngôi chùa ấy không phải là “cổ tự” đồ sộ nằm trên núi cao, chạm tới mây trời, chung quanh là rừng già âm u, có những vị cao tăng võ công thâm hậu và những hòa thượng đệ tử rời bỏ hồng trần quanh năm luyện tập võ công chờ ngày xuống núi hành đạo...

“Võ sinh” vào khoảng 50 người, là những đứa trẻ lứa tuổi 10 đến 17 – 18. Các em đến “tu luyện” tại chùa từ những mảnh đời bất hạnh, những trẻ em lang thang trên đường phố, những đứa con bị cha mẹ bỏ rơi... Vào sống trong chùa, không chỉ được dạy võ, các em còn được học văn hóa, vi tính, anh văn... Để rồi khi đến tuổi trưởng thành phải “xuống núi”, các em tiếp tục thành sinh viên, công nhân, thành những công dân tốt của xã hội.
.
Tôi không phải là con nhà võ, nhưng từ lâu tôi rất ngưỡng mộ trường phái võ Thiếu Lâm và ngôi chùa Thiếu Lâm Tự. Tôi cứ ao ước được một lần trong đời đặt chân đến ngôi chùa huyền thoại này để xem các thầy chùa luyện võ. Thiếu Lâm Tự là một ngôi chùa tại Tung Sơn - Hà Nam - Trung Quốc, là một trong những ngôi chùa xưa nhất của Trung Quốc, nổi tiếng từ lâu nhờ mối liên hệ với Phật giáo Thiền tông và võ thuật.

Võ thuật của Thiếu Lâm tự được xem là nguồn gốc các phái võ Trung Quốc hiện nay. Theo truyền thống, các nhà sư Thiếu Lâm phát triển kỹ năng võ thuật để phòng thủ sự tấn công của kẻ địch, như là một phương tiện giữ gìn sức khỏe, và như là kỷ luật về tinh thần và thể chất.
Sau thành công vang dội của bộ phim Thiếu Lâm Tự do Lý Liên Kiệt đóng vai chính vào năm 1982, chùa được nhà nước Trung Quốc cho xây dựng lại và trở thành địa điểm du lịch chính thức, là nơi hành hương của các nhóm võ thuật trên khắp thế giới và khách du lịch yêu thích võ thuật.

Đi tìm “Thiếu Lâm Tự”

Tôi đã từng tự hỏi, không biết có ngôi chùa nào ở Việt Nam là nơi luyện võ như Thiếu Lâm Tự hay không. Nỗi thắc mắc ấy của tôi đã được giải đáp khi cách đây vài tháng tình cờ tôi chứng kiến một vụ giật giỏ xách trên QL1A, đoạn ngang qua huyện Bến Lức, tỉnh Long An. Hai cô gái đi trên một chiếc xe gắn máy đã bị 2 tên cướp chạy xe cùng chiều giật chiếc giỏ xách.
Sau tiếng la thất thanh của cô gái, tôi thấy một chiếc xe gắn máy lao theo 2 tên cướp, rồi chặn đầu xe. Chỉ cần mấy thế võ là 2 tên cướp bị đo ván, phải quăng giỏ xách lại, lên xe chạy thục mạng, người thanh niên kia cũng không buồn đuổi theo. Tôi lân la hỏi thăm, người “hiệp sĩ” cho biết mình làm công nhân. Còn mấy thế võ vừa rồi anh học được từ chùa Long Thạnh trong suốt mấy năm anh sống, học tập và tu luyện tại đây.

Bị câu chuyện hấp dẫn, tôi đã tìm đến chùa Long Thạnh vào một buổi chiều. Rời thành phố Tân An (tỉnh Long An) đi về phía bắc hơn 10 cây số, tôi đến thị trấn Thủ Thừa (huyện Thủ Thừa), đây là vùng rìa của Đồng Tháp Mười, cuộc sống vẫn còn nhiều khó khăn, kinh tế nông nghiệp vẫn là chủ đạo. Hỏi thăm chùa Long Thạnh, có người biết người không, nhưng khi tôi hỏi về lớp học tình thương của thầy Út (tức Đại đức Thích Quảng Tâm, trụ trì chùa Long Thạnh) thì hầu như người dân Thủ Thừa nào cũng đều biết rành.
Một cậu bé đã leo lên xe gắn máy để dẫn tôi đi đến tận chùa. Chùa nằm trong hẻm sâu, chỉ xe gắn máy vào được, khuôn viên chùa chật hẹp, qua cổng chùa là tôi bước ngay vào chánh điện. Chánh điện vắng tanh, từ trước ra sau không một bóng người.

Trở ra cổng, đi thêm mươi bước, rồi rẽ vào hậu liêu của chùa, tôi đã gặp thầy Út. Theo chân thầy, tôi đến bãi sân rộng láng xi măng sạch sẽ ở hậu liêu, ở đó hơn 50 học sinh sống trong chùa đang hàng ngũ chỉnh tề cho giờ học võ. Thầy Út cho biết, đây là số học sinh có hoàn cảnh đặc biệt trong xã hội, như bị cha mẹ bỏ rơi, trẻ em lang thang đường phố, không nơi nương tựa, được nhà chùa nhận về nuôi dạy.
Các em được tạo điều kiện đến trường học văn hóa, học giáo lý nhà Phật, học võ, học vi tính. Ngoài ra các học sinh cũng được học tùy thích các môn: Anh văn, viết thư pháp, múa lân, âm nhạc…

Hiện thầy Út trực tiếp đứng lớp dạy thư pháp, giáo lý nhà Phật, còn các chương trình học khác thầy vận động phật tử các nơi về cộng tác đứng lớp. Hôm nay võ sư bận việc không đến được, thầy Út phải dạy thay. Bản thân võ thuật đã là đạo – võ đạo, người học võ để phòng thân và để làm điều thiện. Học võ dưới mái chùa càng phải nhắm đến cái đích thiện mỹ.

Thầy Út tâm sự: “Học hết lớp 12 các em sẽ rời khỏi chùa để tự lập, cùng với kiến thức văn hóa, những kỹ năng sống được tích lũy ở đây sẽ giúp các em tự tin hơn khi bước vào đời”.
Bước khỏi đội hình học võ theo yêu cầu của thầy Út, hai anh em Võ Quốc An (lớp 4) – Võ Quốc Khang (lớp 2) đến chắp tay lễ phép chào tôi. Cách đây 2 năm, hai cháu được bà ngoại từ huyện biên giới xa xôi dắt đến gửi vào chùa.

Thầy Út đã đi gần 100 cây số đến huyện Vĩnh Hưng (Long An) để xác minh hoàn cảnh hai cháu: không cha, mẹ bỏ con cho bà nuôi, cả nhà từ bên Đồng Tháp qua Vĩnh Hưng làm mướn, không hộ khẩu, một cháu không có khai sanh… Mỗi năm hai cháu đều được nhà chùa tạo điều kiện cho về ăn tết với bà ngoại và trở thành hai đứa cháu đầu tiên của bà biết đọc biết viết (những đứa còn lại ở quê nhà đều mù chữ).

Một trường hợp hai anh em bất hạnh khác: T.T.A (lớp 9) và T.T.B (lớp 5, thầy Út yêu cầu giấu tên vì sợ ảnh hưởng đến cha con các cháu) bị mẹ bỏ từ nhỏ, sống với cha. Rồi người cha làm ăn hay bài bạc gì đó bị đổ nợ, trước khi bỏ trốn đã đem gửi hai con nhỏ vào chùa. Hơn bốn năm qua, chỉ đôi lần người cha đáng thương và đáng trách ấy lén lút ghé lại chùa thăm hai con nhỏ của mình… Nhìn các cháu miệt mài tập võ, tôi không thể hình dung cách đó không lâu các cháu còn là trẻ thất học, lang thang không nơi nương tựa.
Học võ sau khi học văn hóa

Về cơ duyên ra đời lớp học tình thương trong chùa, thầy Út kể: thầy sinh năm 1961 tại vùng quê nghèo thuộc một xã vùng sâu huyện Thủ Thừa, nơi chuyện học rất khó khăn, nhiều trẻ thất học. Lớn lên đi tu, thầy Út cứ canh cánh bên lòng nỗi xót xa những cảnh đời thất học, sống vất vưởng chung quanh. Những năm đầu thập niên 1980, huyện Thủ Thừa liên tục bị lũ lụt nặng, học sinh đi học càng khó khăn, nhiều em phải bỏ học. Xót xa trước cảnh các em học dở dang, thầy đã giúp đỡ bằng cách cho các em vào chùa ở để tiện việc đi học. Nhà chùa chật hẹp, lúc đầu chỉ nuôi được bốn, năm em.

Tiếng lành đồn xa, các em được gia đình gửi tới ở ngày một nhiều, trong đó có cả trẻ mồ côi, trẻ sống lang thang. Dù cố gắng lắm, nhà chùa cũng chỉ có thể cưu mang chừng 10 học sinh, cho đến một ngày có một chuyện cảm động diễn ra dưới mái chùa.
Có một nữ phật tử từ TP.HCM đến viếng chùa, thấy nhà chùa cưu mang học sinh nghèo trong điều kiện chật hẹp, thiếu thốn, bà đã động lòng trắc ẩn, giúp đỡ các em rất nhiều. Chẳng may người phụ nữ tốt bụng ấy mắc bệnh nan y.

Trước khi qua đời, bà đã cùng người thân đến chùa làm di chúc, theo đó sau khi bà qua đời, người thân lấy tài sản của bà để lại giúp nhà chùa mua đất, cất nhà để nuôi dạy các học sinh tốt hơn. Số tiền khá lớn của bà để lại đã giúp nhà chùa mở rộng khuôn viên, xây chỗ ăn ở, học tập rộng rãi, khang trang như hiện nay. Cũng nhờ đó, chùa đã xây dựng được khu hậu liêu rộng rãi làm nơi tập võ cho học sinh. Để tưởng nhớ công ơn người nữ phật tử nhân hậu ấy, thầy Út đã lấy tên bà đặt cho khu học xá: Mái ấm Kim Chi.

Để thầy Út tập võ cho các em, tôi đi dạo khắp khuôn viên chùa. Trong cả ngôi chùa, lớp học và nơi ăn ở của các học sinh được xây dựng khang trang nhất. Chỗ ở của các em, dù là nhà tường, nền lát gạch men, nhưng không được rộng rãi, nếu như không nói là khá chật vì ban đầu thiết kế cho chỉ hơn 30 học sinh ở nội trú, nhưng số học sinh đến quá đông, nên phải kê giường sát lại, các em chịu chật một chút, nhưng nhờ đó mà có thêm nhiều cảnh đời bất hạnh được cưu mang.

Các em ở giường tầng, nơi đó sách vở, dụng cụ học tập, đồ dùng sinh hoạt được sắp xếp ngăn nắp như trong doanh trại quân đội. Kế bên nhà ở là nhà bếp với các kệ được lát gạch men màu trắng, bên trên có những chiếc chảo lá sen thật to được nấu bằng củi khô.
Cơm và thức ăn đều được nấu bằng những chiếc chảo lá sen, gồm đậu hũ kho với bí đao, món canh rau, cùng với tương, chao… Đối diện với khu nhà ở và nhà bếp, nằm kề bên chánh điện là phòng học được xây cao ráo, rộng rãi, gạch men sáng loáng. Đây là nơi các học sinh học vi tính, tiếng Anh, thư pháp... Bàn học là loại theo quy cách mới nhất của ngành giáo dục, có thể điều chỉnh độ cao. Mười tám bộ máy vi tính thế hệ mới có kết nối Internet được đặt quanh phòng.

Vị Đại đức giỏi vi tính

Kết thúc giờ học võ, trong khi các “võ sinh” tập trung vào các bàn ăn cơm chiều, thầy Út vào phòng vi tính. Tại đó, có mấy em học sinh nhỏ, các em từ bên ngoài vào nhờ máy vi tính nhà chùa thực tập miễn phí. Em Phạm Minh Thái, học sinh lớp 8 Trường THCS Bình An (xã Bình An, Thủ Thừa), cho biết nhà em cách chùa chừng ba cây số, hàng ngày em đạp xe đến chùa học vi tính vì ở Bình An không có ai dạy môn này.
Em Thái đang gặp khó khăn gì đó trên máy, thấy thầy Út vào lớp, em vội chắp tay thưa thầy nhờ chỉ giúp. Sau mấy lời giải thích và vài cái click, thầy Út lại đi lo công chuyện, còn em Thái tiếp tục thực hành trên máy.

Chuyện thầy Út đến với thế giới vi tính cũng không kém phần thú vị. Đến cuối thập niên 1990 phong trào học vi tính mới lan đến huyện Thủ Thừa. Lúc ấy, trong một lần đi công việc ở TP.HCM, thầy Út được một nhà sư là bạn tặng chiếc máy vi tính hệ điều hành Windows 95.
Với lòng yêu thích thành tựu khoa học, thầy Út đã mua sách mày mò tự học, rồi mỗi tối đi về hàng chục cây số theo học lớp vi tính ban đêm ở thành phố Tân An, thầy trở thành một trong những người đầu tiên giỏi vi tính ở huyện Thủ Thừa.

Thầy đem kiến thức vi tính của mình truyền dạy cho học trò nghèo đang nương tựa trong chùa. Lúc đó, cả thị trấn Thủ Thừa chỉ có hai điểm dạy tin học, một của tư nhân với học phí rất đắt, một của nhà nước chỉ mở ban ngày. Nhiều học sinh nghèo muốn đi học vi tính cũng không được, phần vì học phí quá cao, phần vì không có lớp đêm. Không chỉ dạy học trò nghèo trong chùa, lớp xóa mù tin học của thầy Út còn thu nạp cả những đứa trẻ trong thị trấn.

Đến khi một số trường THCS tại một số địa phương trong huyện được trang bị máy tính, nhưng giáo viên tin học thì chưa có sẵn, thầy Út đã đi vận động các trường cử người đến chùa học miễn phí, đồng thời vận động các phật tử biết tin học ở trên tỉnh về cùng mình đứng lớp. Tiếng lành đồn xa, cán bộ các cơ quan trong huyện, học sinh nghèo các nơi cũng đến chùa học vi tính.
Trung tâm tin học chùa Long Thạnh với chỉ một máy tính đã luôn nhộn nhịp vào mỗi tối. Cũng nhờ vào tấm lòng của các phật tử, năm 2002 chùa tăng lên được bốn máy vi tính, để đến hôm nay nhà chùa có đến 18 máy vi tính thế hệ mới. Hàng trăm người thành thạo vi tính ở huyện Thủ Thừa, nhiều người trong họ tiếp tục học lên cao để trở thành chuyên viên vi tính giỏi, đã từng đến với thế giới @ dưới mái chùa Long Thạnh, mà thầy dạy trong trang phục áo nâu sòng.

Gieo chữ nơi cửa Phật

Dưới mái chùa Long Thạnh có nhiều cảnh đời bất hạnh đến từ nhiều vùng miền trên cả nước. Cháu Lương Thế Dượt (lớp 7) quê tận tỉnh Thái Bình có cuộc hành trình đến chùa khá truân chuyên. Mẹ cháu gửi con vào một ngôi chùa nhỏ ở huyện nhà Kiến Xương lúc mới sanh. Ngôi chùa này không đủ điều kiện nuôi dạy, đã gửi cháu đến chùa khác trên tỉnh.
Cứ thế, cháu được gửi đến tận chùa Long Thạnh. Dựa vào giấy khai sinh, thầy Út đã tìm đến tận huyện Kiến Xương – tỉnh Thái Bình và gặp được người cha của bé Dượt bị bệnh tâm thần đang sống một mình, còn mẹ cháu dắt những đứa con khác đi bán vé số đâu ngoài Hà Nội.

Cuối cùng thầy Út cũng có được số điện thoại của mẹ cháu Dượt. Bây giờ thỉnh thoảng mẹ con cháu Dượt được gặp nhau qua điện thoại của nhà chùa. Thầy Út đang tìm nguồn tài trợ để cháu Dượt về quê thăm cha mẹ. Cũng ở tận miền Bắc xa xôi, em N.T.C (lớp 8, huyện Lộc Hà – tỉnh Hà Tĩnh) được gia đình gửi vào chùa Long Thạnh cách đây hai năm để mong cháu tiếp tục được học, vì nhà quá nghèo, cháu lại còn hai em nhỏ.

Dù đến từ nhiều nơi, mỗi cháu một hoàn cảnh, nhưng tất cả học sinh được nhận vào chùa theo một quy trình rất chặt chẽ. Đích thân thầy Út tìm đến tận gia đình các cháu để yêu cầu cha mẹ (hoặc người thân) làm đơn xin vào học trong chùa, kèm theo giấy xác nhận của chính quyền địa phương gia đình quá khó khăn không có điều kiện cho con đi học.
Rồi thầy đăng ký cho các em vào học các trường phổ thông gần chùa. Nhà chùa lo toàn bộ chi phí học tập (học phí, bảo hiểm, sách vở, bút mực…) cho các em.

Ngoài thời gian ở trường, khi về chùa các học sinh được sinh hoạt, học tập “giờ nào việc nấy” giống như trong môi trường quân đội, như: 5h30 thức dậy; 6h30 ăn sáng; 6h45 đến trường; 17h học võ; 18h ăn cơm; tối học vi tính, Anh văn, 22h tắt đèn ngủ. Long Thạnh là ngôi chùa nghèo, cùng lúc phải cưu mang năm sáu chục học sinh, khó khăn là điều không thể tránh khỏi.
Chỉ riêng chi phí học tập hàng năm cho mỗi em đã năm sáu triệu đồng. Tiền ăn uống cũng ngần ấy tiền. Phần nhiều các em đều được nhà chùa sắm cho xe đạp để đi từ chùa đến trường. Chuyện thiếu trước hụt sau, nợ học phí, chạy ăn từng bữa thường xuyên xảy ra. Dù vậy, lứa học sinh này vừa rời khỏi chùa, lứa học sinh sau lại đến, cửa nhà chùa luôn rộng mở cho những cảnh đời bất hạnh. Tấm lòng lo cho việc học của một nhà sư đã qui tụ nhiều tấm lòng vàng khác.

Người dân và các thầy cô giáo ở Thủ Thừa đã quen với hình ảnh nhà sư mặc áo nâu sồng, cổ đeo tràng hạt, vai mang túi vải đi họp cha mẹ học sinh, đi đóng học phí, đi làm thủ tục thi đại học cho những đứa con của nhà chùa. Nhà chùa chỉ nuôi tới hết lớp 12, sau đó các em phải tự bước vào đời. Những trường hợp thi đậu lên cao, nhà chùa tiếp tục giúp bằng cách nhờ các tổ chức từ thiện, các chùa ở TP.HCM nhận nuôi hoặc cấp học bổng suốt bốn năm đại học cho các em.

“Đầu vào” của lớp học chùa Long Thạnh là những cảnh đời dưới đáy xã hội, nhưng “đầu ra” lại là những học sinh chững chạc, nếu không vào được đại học, cao đẳng, các em cũng dễ dàng lập thân bằng hành trang kiến thức và kỹ năng sống tích lũy từ nhà chùa.
Đã có hơn mười đứa trẻ từng nương nhờ cửa Phật tốt nghiệp đại học, có việc làm ổn định, nhiều em thành đạt. Hàng chục cháu khác học các trường nghề, trở thành công nhân, người bán hàng, tài xế…, tất cả đều hòa nhập tốt vào xã hội.

Dù bay cao, bay xa, nhưng ngôi chùa trong hẻm nhỏ luôn là chỗ đi về thăm viếng của các cháu. Mới đây, một trẻ mồ côi sau khi rời khỏi chùa đã học xong ĐH Bách khoa TP.HCM, tốt nghiệp loại giỏi, có việc làm ổn định, thu nhập tốt, trở về chùa Long Thạnh nhờ thầy Thích Quảng Tâm đứng ra chủ trì cưới vợ cho mình. Hầu hết các cháu khi rời khỏi chùa, có việc làm ổn định, đều đứng ra vận động quyên góp cho nhà chùa tiếp tục duy trì và mở rộng lớp học, để ngày càng có nhiều những đứa trẻ bất hạnh khác tìm thấy tương lai, hạnh phúc.

Rời khỏi phòng vi tính, trong khi chờ thầy Út, tôi tiếp tục lang thang trong khuôn viên nhà chùa và tôi lại tiếp tục bị bất ngờ. Trong khi chỗ ở, nhà bếp, lớp học dành cho học sinh nơi nào cũng được xây dựng khang trang, thì chỗ ở của thầy trò sư trụ trì chỉ là căn nhà lụp xụp nằm ở góc khuất trong khuôn viên chùa. Ban đầu tôi cứ ngỡ đó là kho chứa đồ đạc nhà chùa. Đến khi thầy Út chính thức tiếp và làm việc với tôi trong “nhà kho” ấy, tôi mới biết đó là nơi ở của hai thầy trò sư trụ trì.

Họ dành tất cả những gì tốt đẹp nhất để phụng sự đức Phật và để chăm sóc, dạy dỗ học sinh, còn mình sống giản dị, khiêm tốn, nếu như không nói là khắc khổ. Ngồi trò chuyện với thấy Út, tôi mới nhớ ra mình đã gặp thầy một lần khi đi dự Hội nghị tuyên dương các tấm gương điển hình học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh ở tỉnh Long An. Trong số những tấm gương xuất sắc nhất được tuyên dương trong ngày hôm ấy có một nhà sư.

Tại hội nghị ấy Ban Tổ chức không thể giới thiệu đầy đủ về từng tấm gương, vì vậy mà tôi không thật sự quan tâm tới thầy Út giữa bao nhiêu tấm gương điển hình khác. Bây giờ tôi mới được biết, thầy Út là 1 trong 15 tấm gương điển hình của tỉnh Long An được Trung ương khen thưởng và tham dự đoàn đại biểu tỉnh đi dự Hội nghị toàn quốc sơ kết 4 năm thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” ở Hà Nội.

Tôi rời khỏi chùa Long Thạnh khi đã hơn 7h tối, bên ngoài trời đang mưa rỉ rả, không có dấu hiệu sẽ sớm tạnh. Khi đến thăm chùa, tôi chỉ chờ mong được thấy cảnh học võ như Thiếu Lâm Tự. Đến khi ra về, tôi cảm thấy còn thú vị hơn thế.
Hơn 50 học sinh mỗi người một vị trí học tập, chăm chỉ và trật tự, giống như lúc chiều các em trật tự trên sân luyện võ. Sẽ hạnh phúc hơn nếu giờ này các cháu được ngồi học bài trong mái ấm gia đình, bên cha mẹ, ông bà. Nhưng cuộc đời đã dồn sự mất mát về những mái đầu hãy còn xanh này. Vậy mà, nhờ tấm lòng của một nhà sư, sự yên tĩnh của một ngôi chùa đã và đang giúp cho bao cảnh đời bất hạnh khi lớn lên ít bị thương tổn nhất.

Du lịch, GO! - Theo Phụ nữ & Đời sống

Thứ Ba, 26 tháng 7, 2011

Bộ đội '4 cùng' ở điểm nóng Mường Nhé

Mới đây, tại huyện Mường Nhé (Điện Biên) lan truyền tin sẽ xuất hiện một “thế lực siêu nhiên” lừa bịp đồng bào Mông, với chiêu bài sẽ đưa bà con tới miền đất hứa...

< Suối Nậm Vì trong xanh “đón” bộ đội hành quân qua.

Ở đó mọi người sẽ được ban sức khỏe, hạnh phúc, giàu có, thịnh vượng…  Lợi dụng tình hình đó, một số phần tử xấu đã kích động, vận động đồng bào tụ tập lại ở một số điểm bản như: Huổi Chạ, xã Nậm Vì, đông nhất khu vực bản Huổi Khon, xã Nậm Kè đòi thành lập vương quốc riêng của người Mông, gây mất trật tự, an ninh ở địa phương.


< Các chiến sĩ tiểu đoàn 6 và thanh niên trong xã dọn vệ sinh thôn bản.

Để nhanh chóng ổn định tình hình, hàng trăm cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 82 (Quân Khu 2) đã có mặt, cùng với các cấp, các ngành và cấp ủy, chính quyền địa phương sở tại vận động, thuyết phục bà con không nên tin vào những lời bịa đặt lừa bịp; các luận điệu sai trái đối với chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc của Đảng và Nhà nước, sớm trở về nhà để tiếp tục công việc nương rẫy, yên tâm sản xuất với cuộc sống bình yên gắn bó nơi núi rừng Tây Bắc.


< Bộ đội cấy lúa giúp gia đình ông Vừ Pa Tủa, dân tộc Mông, bản Huổi Chạ là gia đình neo đơn, khó khăn.

Sau nhiều ngày “4 cùng” với đồng bào, đơn vị 82 đã đóng góp trên 3.000 ngày công, đào đắp nạo vét hàng nghìn mét kênh mương, vệ sinh các thôn bản, sửa chữa làm mới trường học, hướng dẫn đồng bào cấy lúa, trồng ngô, trồng sắn, khám chữa bệnh cấp thuốc miễn phí… ở 2 xã Nậm Kè, Nậm Vì và được đồng bào tin yêu, chính quyền khen ngợi.

< Đưa các em nhỏ qua suối Huổi Lúm.
< Sườn núi bản Huổi Khon - nơi tụ tập đông người đầu tháng 5 nay ngô đã lên xanh, có thêm bàn tay chăm bón của những người lính quân hàn xanh Đồn 411.
< Quân y Trung Đoàn 82 thăm hỏi, kiểm tra sức khỏe, cấp thuốc miễn phí cho cụ Thào Thị Ly, 100 tuổi, dân tộc Mông, xã Nậm Vì.
< Tâm tình giữa bộ đội và thanh niên giờ giải lao.
< Các chiến sĩ đại đội 10 trên đường vào bản giúp dân.
< Hướng dẫn đồng bào kỹ thuật nhổ mạ.

Anh Thào A Của, dân tộc Mông, Bí thư Đảng ủy xã Nậm Vì bộc bạch: “Đồng bào Mông cơ bản đều là người tốt, do một số phần tử xấu tuyền truyền kích động nên một số người đã quá khích.

Bộ đội về, bản làng thêm đông vui. Bộ đội không chỉ giúp dân mà còn tuyên truyền để dân hiểu chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc của Đảng và Nhà nước. An ninh, trật tự trong xã được củng cố và ổn định, đồng bào đã yên tâm sản xuất, chịu khó lên nương rồi!”

Du lịch, GO! - Theo Báo Quân đội Nhân dân

Những khu nghỉ lãng mạn nhất Việt Nam

Đó là thiên đường hoang sơ trên Côn Đảo, hay là chốn mây núi chơi vơi giữa Bà Nà...

1. Côn Đảo, thiên đường hoang sơ và trong lành

Cùng với 9 hòn đảo khác trên thế giới tại Yemen, Úc, Nhật Bản, Hàn Quốc…tạp chí Lonely Planet bình chọn Côn Đảo là một trong 10 hòn đảo hoang sơ và trong lành, đẹp nhất thế giới.

Từ một hòn đảo nổi tiếng là nơi giam giữ tù chính trị, Côn Đảo đã biến thành một thiên đường du lịch với vườn quốc gia được bảo tồn, những hòn đảo có rừng dày đặc, nơi nương náu và sinh sôi của cá heo, rùa và các rặng san hô biển tuyệt đẹp.

Những du khách tới đây không chỉ ngây ngất trước màu xanh mê hồn của biển và những bãi cát trắng trải dài, những cặp đôi hạnh phúc còn có thể đến thăm các di tích lịch sử nổi tiếng và thích thú ngắm đàn rùa biển trong mùa ấp trứng từ tháng 5 đến tháng 11.
.
Côn Đảo nguyên sơ và mới chỉ bao gồm một số khu nghỉ dưỡng rất ít tập trung ở thị trấn Côn Sơn. Có lẽ chính vì sự tĩnh lặng, nguyên sơ này mà hòn đảo trở thành điểm đến lãng mạn của các cặp đôi muốn có không gian riêng tư trong kỳ trăng mật.

2. Chơi vơi giữa sương và mây núi Bà Nà

Ở độ cao gần 1500m so với mực nước biển, khí hậu có đủ 4 mùa trong ngày, cách đây gần cả trăm năm, Bà Nà đã trở thành một điểm du lịch tuyệt vời cho những du khách khó tính muốn hưởng thụ cả phóng khoáng nồng nàn của nắng hè lẫn sương mù và hơi lạnh của thu, đông trong một kỳ nghỉ ngắn.

Chỉ cách Đà Nẵng hơn 45km, trong khi bờ biển miền Trung đang ở nhiệt độ mùa hè, thì bạn vẫn cần áo khoác, chăn len vì nhiệt độ ở đây khoảng 12-18 độ C. Khoảnh khắc giao mùa luôn được ví von là thời gian tuyệt diệu nhất trong năm, và ở Bà Nà, bạn sẽ cảm nhận được nó mỗi ngày...

Những trải nghiệm đáng giá nhất với du khách đến với Bà Nà không chỉ dừng ở tầm nhìn bao quát từ đỉnh núi, từ những khách sạn hay khu nghỉ giữa khí hậu trong lành, núi rừng hoang sơ, có cả suối đẹp như tranh thủy mặc... mà còn là khi bạn thấy mình chơi vơi giữa mây núi bồng bềnh trong chiếc cheo leo vượt dốc.

Dĩ nhiên có thể đi cáp treo, nhưng những cặp đôi lãng mạn và coi du lịch khám phá là phong cách thì việc đi xe Honda lên Bà Nà vào buổi chiều quang đãng hứa hẹn tối có trăng sẽ là một kỷ niệm không thể quên.

3. Đại Lải, đi đâu cho xa?

Ở Hà Nội, một người rất lãng mạn và hài hước đã nói với đôi bạn sau ly hôn thế này: "các cậu đã không hưởng tuần trăng mật ở Đại Lải phải không?". Bạn sẽ hiểu ý nghĩa của câu nói ấy khi đến hồ nước mênh mông được bao bọc bởi các triền đồi, um tùm xanh mướt bóng và lá bạch đàn, thông… nằm ngay chân núi Tam Đảo, chỉ ở cách Hà Nội 40km.

Có thể nói đây là khu du lịch sinh thái, an dưỡng lý tưởng đáng được đến nhất của những du khách mong muốn tìm sự tĩnh lặng và mát mẻ trong những ngày oi ả cuối hè. Hồ Đại Lải rộng tới hơn 500 ha, còn nếu tính tổng diện tích khu vực xung quanh với đồi, núi, rừng thực vật quý… thì khu vực nghỉ dưỡng này rộng khoảng 3.000 ha.

Việc mở rộng đầu tư bất động sản lên khu vực này đã biến khung cảnh Đại Lải trở nên hết sức quyến rũ. Xen giữa những tán thông, bạch đàn là những khu biệt thự hoặc nhà nghỉ lộng lẫy, kiểu dáng đa dạng. Du khách sẽ được nghe những bản nhạc thông thơ mộng và đầy lãng mạn mà không cần đến tận... Đà Lạt.

Thú vị không kém, nếu bỏ công đi ra đảo chim giữa hồ vào đúng mùa chim làm tổ, bạn sẽ sững sờ trước hàng trăm loài chim từ phương xa bay về, thật sống động và đáng yêu.

Và nếu đã nắm tay nhau đi giữa không gian tuyệt đẹp và luôn nhớ khoảng khắc hạnh phúc ấy, bạn sẽ cố gắng nhiều hơn để bảo vệ và gìn giữ cuộc hôn nhân của mình trước những sóng gió và khó khăn của cuộc đời.

Du lịch, GO! - Theo aFamily, internet

Cà phê cao cấp trên hè phố Sài thành

Cà phê vỉa hè từ lâu đã là nét thân thuộc trong đời sống sinh hoạt của người dân Sài Gòn. Khi ý thức về vệ sinh an toàn thực phẩm cộng đồng được nâng cao, nhiều cà phê hè phố cao cấp xuất hiện và thu hút rất đông khách.

Sáng sáng, chiều chiều, tấp vội vào một quán thân quen lề đường để nhấm nháp ly cà phê, thoải mái bình luận các vấn đề thời sự, được ngồi, nghe, nhìn ngắm và cảm nhận cuộc sống ngoài phố đang ào ạt chảy, đã trở thành thói quen của không ít người.

Song cà phê vỉa hè cũng bị cho là kém an toàn vệ sinh thực phẩm, lấn chiếm lòng lề đường khiến kẹt đường, ùn tắc xe cộ. TP HCM đã đưa loại hình kinh doanh này vào diện giải tỏa, nên nhiều "tín đồ" thấy tiếc.
.
Anh Kim Thành, nhân viên bưu chính viễn thông ở quận 1 ngậm ngùi: “Đồng ý rằng việc giải tỏa là cần thiết, nhưng cái thú nhâm nhi cà phê ở các quán cóc đơn giản, cởi mở như thế này đã trở thành một phần cuộc sống phố thị rồi, mất đi thì tiếc lắm”.

Từ thực tế này, vài năm qua Sài Gòn xuất hiện những quán cà phê vỉa hè được đầu tư kỹ lưỡng hơn, có sự kết hợp giữa vẻ đẹp hiện đại và giá trị truyền thống, không gian hiện đại, sang trọng, gần gũi theo hình thức của các quán cóc bình dân.

Đáp ứng nhu cầu của nhiều khách hàng, cạnh những công ty, văn phòng, siêu thị, các tòa cao ốc hiện đại, kiểu quán này là khá phổ biến. Quy mô nhỏ thì khoảng vài bộ bàn ghế như quán The Coffee Bean trước khu phức hợp mua sắm Kumho Asiana Plaza, nhìn ra đường Lê Duẩn, một trong những con đường đẹp nhất TP HCM. Hay vị trí trước tòa nhà Sunwah, nhìn ra đường hoa Nguyễn Huệ thơ mộng, tấp nập du khách. Quy mô lớn hơn thì có cà phê Highlands trước trung tâm thương mại Diamond Plaza, cạnh Nhà thờ Đức Bà thâm nghiêm, cổ kính và công viên 30/4 rợp bóng cây xanh. Hoặc quán trước tòa nhà Metropolitan đường Đồng Khởi, đối diện tượng Đức Mẹ. Trước cao ốc Saigon Trade Center đường Lê Lợi cũng luôn có đến vài chục bộ bàn ghế.

Cách bài trí các địa điểm này khá đơn giản nhưng lịch sự, bàn kính đi cùng nghế ngồi duyên dáng, dưới những chiếc dù xinh xắn.

Anh Thạch Nai, quản lý của một trong những quán cà phê như thế này cho biết: “Khách hàng chúng tôi hướng đến là người có thu nhập ổn định, thích không khí dung dị, tiện lợi của quán vỉa hè nhưng lại muốn được phục vụ tốt hơn”.

Phong cách phục vụ chuyên nghiệp, cà phê cũng đa dạng hơn nên giá cả cao gấp nhiều lần so với cà phê vỉa hè bình dân. Một số nơi còn có thêm loại cà phê nổi tiếng như cà phê Robusta, Arabica, Cappuccino… và nhiều loại cocktail, sinh tố được pha chế rất ngon.

“Ghiền cà phê vỉa hè từ thời sinh viên, riết rồi thành thói quen luôn. Lâu lâu mà không được vừa cà phê vừa nhìn ngắm phố phường xung quanh là không chịu nổi. Cà phê vỉa hè mà vẫn được đảm bảo đầy đủ các dịch vụ cao cấp như trong nhà hàng thì còn gì bằng”, vừa cảm ơn cô phục vụ xinh xắn trong đồng phục áo đỏ, anh Tâm, một trưởng phòng kinh doanh công ty vừa tươi cười chia sẻ.

Cạnh những vồn vã, hối hả phố thị là sự lắng đọng giản đơn; cạnh những nhà hàng, khách sạn sang trọng là các quán cóc nền nã, bình dị. Sài Gòn không thiếu những nơi giải trí có không gian lịch sự, trang trí sang trọng, lãng mạn; quán cà phê hộp, máy lạnh, cà phê sân vườn quy mô, được chăm chút, đầu tư công phu. Song cà phê nhỏ gọn, khoáng đạt nơi vỉa hè đã hấp dẫn nhiều người Sài thành và cả du khách trong cũng như ngoài nước.

Giới công sở suốt cả ngày nhốt mình trong văn phòng máy lạnh với bao áp lực, những phút giây thả mình giữa nhịp sống nhộn nhịp nhiều sắc màu đời thường, đón gió trời dịu nhẹ ở cà phê vỉa hè chất lượng cao cũng là một điều rất thú vị.

Du lịch, GO! - Theo VnExpress

Lên non tắm thác đầu hè

Để trốn nóng, mùa này có rất nhiều tour tự tạo tìm đến các địa chỉ xanh ở các huyện miền núi thuộc dãy Trường Sơn. Lên non tắm thác, dã ngoại đến với các bản làng vùng cao… đang là địa chỉ được nhiều bạn trẻ ưa chuộng trong ngày hè.

Vào những ngày nghỉ cuối tuần, nếu có dịp đi dọc tuyến tỉnh lộ ĐT 604, đoạn từ TP Đà Nẵng lên hai huyện miền núi Đông Giang và Tây Giang (tỉnh Quảng Nam), chắc hẳn các bạn sẽ bắt gặp rất nhiều bạn trẻ đèo xe máy ngược qua mấy con dốc chênh vênh tìm nơi cắm trại, vui chơi.

Những “địa chỉ xanh”

Có mặt tại con dốc trên đỉnh đồi thôn Phú Túc (xã Hòa Phú, huyện Hòa Vang, TP Đà Nẵng), chúng tôi bắt gặp rất nhiều nhóm bạn trẻ kéo vào khu du lịch sinh thái Suối Hoa nghỉ ngơi, tắm thác.

Đặc biệt, ngược lên nhánh Sông Kôn (huyện Đông Giang), có rất nhiều nhóm tự thiết kế tour lên non tìm đến những con suối, thác tự nhiên cắm trại. Thanh Chung, một bạn trẻ bản địa, cho biết: “Mùa này lên các con suối, thác ở nơi rừng sâu tắm thì không gì tuyệt bằng”.

Ấn tượng và hấp dẫn trong chuyện lên non tắm thác phải kể đến khu du lịch thác nước Ga Răng (thuộc xã Cà Dy, huyện miền núi Nam Giang, Quảng Nam). Giữa bao la đại ngàn Trường Sơn, bạn sẽ đắm mình trong con suối nước trong veo, mát mẻ và ấn tượng với các kỳ quan đá bên dòng nước chảy róc rách êm tai...

Du lịch hè lý tưởng

Một chặng đường dài đến với những bản làng vùng cao của đồng bào Cơtu, ngoài mục đích tắm thác, khách du lịch còn có cơ hội thưởng thức những món ăn đặc sản, tìm hiểu nét đẹp văn hóa truyền thống của đồng bào nơi đây…

Có nhiều tour dã ngoại lên các làng văn hóa của người Cơtu như làng văn hóa-du lịch Bhờ Hôồng (xã Sông Kôn), làng văn hóa Đhờ Rôồng (xã Tà Lu, huyện Đông Giang); làng dệt thổ cẩm Zara (xã Cà Dy), làng văn hóa Công Dồn (xã Zuôih, huyện Nam Giang). Có thời gian hơn, các nhóm có thể tổ chức các chuyến tham quan đến các bản làng của đồng bào Cơtu ở huyện miền núi Tây Giang, thăm di tích địa đạo Anông…

Bắt đầu từ "trạm" dừng chân tại Nông trường Quyết Thắng trên địa bàn xã Ba, huyện Đông Giang (Quảng Nam), bạn sẽ được tham quan đồi chè, cùng công nhân nông trường hái, chế biến và thưởng thức chè. Đây là nông trường quốc doanh sản xuất chè còn lại duy nhất ở Quảng Nam. Sau đó có thể đến làng văn hóa-du lịch Bhờ Hôồng, trực tiếp giao lưu nghệ thuật truyền thống với đồng bào Cơtu, tham quan kiến trúc nhà gươl, nhà moong (nhà sinh hoạt cộng đồng) truyền thống của đồng bào Cơtu nơi đây.

Từ TP Hội An hoặc Đà Nẵng, khách du lịch bụi cũng có thể lên ôtô hoặc xe máy dọc tuyến tỉnh lộ ĐT 604, ngược lên Dốc Kiền đến với làng văn hóa - du lịch Bhờ Hôồng chỉ với hơn 2g đồng hồ. Tại đây bạn sẽ được hòa mình vào những điệu múa t’tung, zază rất quyến rũ của những chàng trai, cô gái Cơtu; cùng dân làng dệt thổ cẩm, đan lát, học tiếng Cơtu, chữ viết Cơtu; đắm mình trong những ché rượu cần, rượu tàvạt, tr’đin.

Đặc biệt, rượu tàvạt và tr’đin là loại rượu có một không hai ở vùng này, được đồng bào Cơtu chế biến từ một loại cây rừng (tàvạt và t’đin còn có tên gọi khác là cây đoát) uống rất ngon và bổ dưỡng, đậm đà, mang hương vị của núi rừng.

Sau chuyến dừng chân tại thôn văn hóa-du lịch Bhờ Hôồng, bạn sẽ tiếp tục cuộc hành trình của mình lên các huyện miền núi Tây Giang và Nam Giang, men theo cung đường Trường Sơn huyền thoại với bao la núi non, hùng vĩ…
Sẽ là một tour dã ngoại ấn tượng, hấp dẫn và thú vị đáng để bạn tìm đến.

Du lịch, GO! - Theo Tuoitre

Thứ Hai, 25 tháng 7, 2011

Gỏi cuốn, phở Việt lọt 'Top 50' món ngon nhất thế giới

Chuyên trang du lịch CNN mới đây đã tổ chức bình chọn 50 món ăn ngon nhất thế giới, kết quả được công bố có sự góp mặt của gỏi cuốn và phở Việt Nam.

< Các nguyên liệu làm gỏi cuốn luôn tươi ngon, bắt  mắt.

Trong bài viết giới thiệu 50 món ăn ngon nhất thế giới, CNN khẳng định một số loại thực phẩm bạn bắt buộc phải ăn để tồn tại nhưng có nhiều món ăn xứng đáng đi một vòng trái đất để thưởng thức tận nơi. “Không có tình yêu nào tuyệt vời hơn tình yêu dành cho ẩm thực”, George Bernard Shaw, nhà viết kịch nổi tiếng người Anh, từng nói.

Câu nói của ông đã trở thành “chân lý” khi ẩm thực thế giới đã đạt đến tinh hoa với những món ăn không thể tuyệt vời hơn. Sau khi tổ chức bình chọn trên các mạng xã hội, CNN đã chọn ra 50 món ăn ngon nhất thế giới, từ Tây sang Đông, Âu sang Á, châu Mỹ cho tới châu Phi.
.
< Gỏi cuốn được ví như món ăn nhanh của người Việt.

Khu vực châu Á - Thái Bình Dương có sự góp mặt của hai đại diện duy nhất là Thái Lan và Việt Nam với số lượng món ăn nhiều nhất. Ngoài các món ăn phổ biến ở thiên đường du lịch Thái Lan, nem cuốn và phở Việt Nam vinh dự sánh ngang với sushi Nhật Bản, pizza Italy, som tam Thái Lan hay kebab Iran.

Gỏi cuốn, có tên tiếng Anh là summer roll, có nguồn gốc từ miền Nam nhưng đã trở nên phổ biến không chỉ trên khắp Việt Nam, mà còn lan tỏa ra thế giới. Cắn một miếng gỏi cuốn, cảm nhận vị dai của bánh tráng, vị béo đậm đà của thịt ba rọi trộn lẫn vị ngọt của tôm luộc, thêm một chút mặn mà của nước chấm, cái mát lạnh, cay nồng nơi đầu lưỡi của rau sống tạo thành một bản hợp tấu làm dậy lên các cung bậc vị giác. Đó là lời nhận xét ưu ái của không ít các bài báo dành cho gỏi cuốn Việt Nam.

< Món gỏi cuốn có nguồn gốc từ miền Nam.

Từ người sang trọng đến lớp bình dân, từ Ta đến Tây, đã ăn một lần thì nhớ mãi. Món gỏi cuốn khá phổ biến, đi đâu cũng gặp. Nó xuất hiện ở khắp các quán hàng rong nằm rải rác trong những con hẻm nhỏ, hay những tiệm ăn uống ven đường và cả trong nhà hàng, khách sạn.

Trong ẩm thực Việt, chẳng món ăn nào “dễ chịu” như gỏi cuốn. Dùng làm thức ăn nhẹ cũng được, mà ăn no căng bụng cũng không ngấy. Ăn gỏi cuốn trong quán, hay ngồi xổm bên gánh hàng rong, thậm chí vừa đi đường vừa ăn cũng thấy ngon. Chả thế mà thỉnh thoảng lại bắt gặp một vài anh Tây ba lô trên đường phố, tay cầm gỏi cuốn, tay bưng chén nước chấm, miệng nhai ngồm ngoàm, mắt vẫn lanh lẹ nhìn xe cộ. Không chỉ vậy, gỏi cuốn đã trở thành món ăn không thể thiếu trong thực đơn của các nhà hàng Việt tại trời Tây. Thậm chí người nước ngoài còn ví gỏi cuốn là fastfood của người Việt, cũng giống như các thương hiệu nổi tiếng KFC hay McDonald nhưng về độ thanh đạm, tươi ngon và tốt cho sức khỏe thì không có loại đồ ăn nhanh nào sánh bằng.

< Phở là món ăn rất nổi tiếng ở nước ngoài.

Khi nhắc đến văn hóa ẩm thực Việt Nam không thể không nói tới phở. Phở đã trở thành biểu tượng của đất Việt cũng như thành danh ở nước ngoài. Bất cứ nơi nào trên thế giới có người Việt sinh sống là nơi đó có món ăn đặc trưng này. Từ Tây sang Đông, phở Việt đã trở nên quen thuộc và được nhiều người ưa chuộng. Chả thế mà, phở không lần nào vắng mặt trong các cuộc bình chọn cũng như giới thiệu nhà hàng Việt tại nước ngoài.

< Nhiều thực khách Tây 'mê' món phở Việt Nam.

Thành phần chính của phở là bánh phở và nước dùng cùng với thịt bò hoặc gà cắt lát mỏng kèm theo các gia vị như: tương, tiêu, chanh, nước mắm, ớt... Tùy vùng miền mà phở có phương pháp chế biến và hương vị khác nhau ít nhiều. Trên bình diện quốc tế, đã có rất nhiều nhà hàng chuyên về phở của người Việt được mở ra ở Bắc Mỹ, châu Âu và Australia. Riêng tại Mỹ, thống kê không chính thức cho biết doanh thu các cửa hàng phở Việt Nam lên tới 500 triệu USD một năm.

Phở với người Việt là quốc hồn, quốc tuý, còn người nước ngoài là thức ăn nhanh, giản tiện, lại ngon, ăn cả buổi sáng, trưa, chiều và tối đều được, nên rất cuốn hút. Tính đến nay, hầu hết các báo có tên tuổi của Mỹ như New York Times, Los Angeles Times, Boston Globe... đều có bài viết về phở, ca ngợi phở như là “thương hiệu văn hóa ẩm thực của người Việt tại Mỹ”.

Du lịch, GO! - Theo Datviet

Chủ quyền VN ở biển Đông trên 'Cửu Đỉnh'

Cửu Đỉnh ở Huế đang được Nhà nước Việt Nam xét duyệt để công nhận là một bảo vật quốc gia. Trên bộ tác phẩm nghệ thuật bằng đồng này, phần lãnh hải của Việt Nam đã được cổ nhân lưu lại một cách cụ thể, sống động bằng cả hình ảnh và ký tự.

Lâu nay, biển Đông đã trở thành một vấn đề thời sự chẳng những của Việt Nam mà còn của khu vực và một số nước trên thế giới. Riêng ở Việt Nam, trong những năm trở lại đây các tài liệu liên quan đến chủ quyền biển đảo của Việt Nam đã được công bố ngày càng nhiều, làm cho vấn đề ngày càng sáng tỏ.

Ngoài hàng vạn thư tịch cổ thể hiện rõ chủ quyền của Việt Nam từ nhiều đời về biển Đông và hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, hình ảnh biển Đông còn được chạm nổi sắc nét trên bộ Cửu Đỉnh hiện được bảo lưu tại hoàng cung triều Nguyễn bên bờ sông Hương (góc phía tây nam của khu Đại nội).
.
Bản kiểm kê tài sản quốc gia

Cửu Đỉnh là một bộ tác phẩm nghệ thuật bằng đồng gồm chín cái đỉnh to lớn được Bộ Công đúc tại kinh đô Huế vào năm 1836 dưới thời Minh Mạng. Chín cái đỉnh được đặt thành một hàng ngang trước sân Thế Miếu, nơi thờ các vua triều Nguyễn. Mỗi đỉnh đối diện với một gian thờ trong tòa miếu ấy. Riêng đỉnh tương ứng với gian thờ vua Gia Long đặt hơi nhích về phía trước, vì vua Minh Mạng cho rằng đó là vị hoàng đế đã có công khai sáng triều đại.

Ở mặt trước hông các đỉnh đều đúc nổi hai chữ đại tự với chữ dưới là chữ đỉnh và chữ trên là tên gọi tắt miếu hiệu của từng vua. Chẳng hạn như Cao Đỉnh (Cao là miếu hiệu của vua Gia Long), Nhân Đỉnh (Nhân là miếu hiệu của vua Minh Mạng), Chương Đỉnh (vua Thiệu Trị), Anh Đỉnh (vua Tự Đức)…, cứ thế lần lượt theo thứ tự các chữ từ vị vua đầu của nhà Nguyễn là Cao, Nhân, Chương, Anh, Nghị, Thuần, Tuyên, Dụ và Huyền.

Đáng chú ý nhất ở đây là 153 hình ảnh được thể hiện xung quanh hông các đỉnh. Ở hông mỗi đỉnh người xưa đã đúc nổi 17 cảnh vật, được phân bố theo một biểu đồ chung: chia làm ba hàng ngang, mỗi hàng gồm một chủng loại. Tại mỗi hình ảnh đều có chữ chỉ tên từng cảnh vật.

Bằng kỹ thuật đúc đồng điêu luyện và nghệ thuật chạm khắc tinh vi, các nghệ nhân thời Minh Mạng đã thể hiện một cách khái quát nhưng súc tích sự phong phú và đa dạng của các cảnh vật tạo nên sự giàu đẹp của Tổ quốc, bao gồm núi sông, lãnh hải, cửa biển, cửa ải, động vật, thực vật, binh khí, xe thuyền...

Nếu ở Nhân Đỉnh có hình ảnh sông Hương thì ở Tuyên Đỉnh có sông Hồng và Huyền Đỉnh có sông Cửu Long. Nếu ở Cao Đỉnh có hình ảnh biển Đông (Đông Hải) thì ở Nhân Đỉnh có biển Nam (Nam Hải) và ở Chương Đỉnh có biển Tây (Tây Hải). Nếu ở Nghị Đỉnh có cửa biển Thuận An (Thuận An hải khẩu) thì ở Thuần Đỉnh có cửa biển Cần Giờ (Cần Giờ hải khẩu) và ở Dụ Đỉnh có cửa biển Đà Nẵng (Đà Nẵng hải khẩu). Nếu ở Cao Đỉnh có cọp trên rừng thì ở Nhân Đỉnh có cá voi dưới biển....

Khi đánh giá cao 153 hình ảnh trên Cửu Đỉnh, một nhà nghiên cứu phương Tây là R.P. Barnouin đã nhận xét bộ hiện vật bằng đồng này “tạo thành một bản tài liệu biểu thị kiến thức bách khoa của các nho sĩ thông thái trong triều đình Huế năm 1836, tài liệu được giữ nguyên vẹn dưới mắt chúng ta, trong khi đó thì những tài liệu khác đã bị tiêu hủy hoặc sai lạc”

(The urns constitute a text expressing the encylopedic knowledge of the learned men of the Court of Hue in 1836, a text preserved intact under our eyes whereas many others have perished or been deformed) (“Les bas- reliefs des urnes dynastiques de Huế”, tạp chí của Hội Nghiên cứu Đông Dương, bộ mới, tập XLIX- 3, 1974, Sài Gòn, trang 426).

Vào khoảng năm 1990, nhà nghiên cứu mỹ thuật Việt Nam Huỳnh Hữu Ủy đã nhận định một cách sâu sắc về Cửu Đỉnh trong một bài viết của ông như sau: “Đây là một cuộc triển lãm... xây dựng trên đời sống trí tuệ và tâm linh của cả một dân tộc mà cho đến ngày nay giá trị ấy càng được xác định hơn. Tâm hồn của đất nước truyền thống biểu hiện tài tình... để ca ngợi Tổ quốc hoa gấm, nước biếc non xanh giàu đẹp, vững bền”.

Có thể nói thêm rằng cuộc triển lãm lộ thiên này, trong một chừng mực nào đó, cũng là một bản kiểm kê tài sản quốc gia vào những thập niên đầu thế kỷ 19.

Giấy chủ quyền của dân tộc

Trong những tài sản quý báu nhất của đất nước được thể hiện trên Cửu Đỉnh, có phần lãnh hải của Tổ quốc, mà cụ thể là biển Đông, biển Nam và biển Tây.

Biển Tây là vùng biển nằm ở phía tây của Nam bộ, tiếp giáp với hải phận của Thái Lan, được gọi chung từ xưa là vịnh Thái Lan (Gulf of Siam). Biển Nam là phần lãnh hải nằm ở phía nam của Nam bộ, tiếp giáp với hải phận của các nước Malaysia, Indonesia... Riêng hải phận của biển Đông xem ra rộng lớn hơn nhiều so với hai biển kia.

Các hải phận của nước ta đã được triều đình nhà Nguyễn bấy giờ quan tâm một cách đặc biệt. Hình ảnh biển Đông được thể hiện trên Cao Đỉnh (Gia Long), biển Nam trên Nhân Đỉnh (Minh Mạng) và biển Tây trên Chương Đỉnh (Thiệu Trị) là ba cái đỉnh to cao nhất và quan trọng nhất, tượng trưng cho ba ông vua đầu tiên của triều đại.

Cửu Đỉnh ở Huế đang được Nhà nước Việt Nam xét duyệt để công nhận là một bảo vật quốc gia. Trong các giá trị của nó, chắc hẳn người đời nay không ai không quan tâm đến chủ đề lãnh hải mà cổ nhân đã lưu lại một cách cụ thể bằng cả hình ảnh lẫn ký tự trên đó.

Dù đã trải qua 175 năm (1836-2011) với bao cơn bão táp của thiên nhiên và thời cuộc, Cửu Đỉnh vẫn còn đứng vững giữa lòng đất nước. Bộ tài liệu bằng đồng này cung cấp cho chúng ta nhiều thông tin cần thiết, trong đó có những hình ảnh khẳng định chủ quyền của dân tộc về lãnh hải nói chung, biển Đông nói riêng.

Với giá trị mang tầm quốc gia, hình ảnh này xứng đáng được đưa vào hồ sơ biển Đông của Việt Nam để đấu tranh ngoại giao trên trường quốc tế.

Du lịch, GO! - Theo