Hiển thị các bài đăng có nhãn Ẩm thực địa phương. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ẩm thực địa phương. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 28 tháng 7, 2011

Thơ mộng một chuyến đèo Le

Từ ngã ba Hương An (Quế Sơn, Quảng Nam), theo hướng tây, qua thị trấn Đông Phú sẽ gặp đèo Le. Đèo Le nằm giữa hai xã Quế Long (Quế Sơn) và Quế Lộc (Nông Sơn), tỉnh Quảng Nam.

Bên kia đèo Le, những cái tên Đại Bình (hay Đại Bường), Trung Phước, Hòn Kẽm Đá Dừng, Dùi, Chiêng, Tí, Sé… bao giờ cũng gợi chút phiêu bồng trong khách lãng du. Nơi đây có phong cảnh sơn thủy hữu tình với suối Mát nước trong vắt, khung cảnh hoang sơ và đặc biệt là có món gà luộc ngon nổi tiếng.
Đèo Le đêm trăng vọng lời mẹ hát...
Câu hát ngàn năm mãi ru lòng tôi...

Ngay đỉnh đèo có một con suối nước trong xanh, mát lạnh. Mỗi khi ngồi nghỉ mệt tại đây khách bộ hành thường hay vốc làn nước trong xanh kia rửa mặt thấy mát lạnh vô cùng nên người ta đặt tên là suối Mát.

Còn tên đèo Le là do ngày xưa, đường sá khó khăn, người dân hai bên muốn thăm viếng nhau phải vạch rừng, lội bộ, leo lên đến đỉnh thì mết quá... le lưỡi thở phì phò nên đèo được đặt tên là đèo Le. Điều hấp dẫn nhất khi chọn đèo Le nghỉ dưỡng chính là khung cảnh thiên nhiên nơi đây còn khá hoang sơ.

Suối Mát nổi tiếng với nguồn nước trong lành, mát rượi nằm trên đỉnh đèo Le. Muốn sử dụng nguồn nước này, du khách không phải vất vả leo lên tận đỉnh đèo như trước đây bởi bây giờ đã có một quần thể dịch vụ du lịch gồm hồ tắm, phòng nghỉ dưỡng luôn sẵn sàng phục vụ. Sau này khi khách du lịch về nhiều con suối nhỏ ngày xưa không đủ cho khách đắm mình nên người ta đã xây 1 hồ bơi rộng giữa lưng chừng núi.

Cả hai hướng đèo Le đều có những quán ăn đề bản "Đặc sản gà tre đèo Le" nhưng quán nổi tiếng và đông khách nhất là quán ngay đỉnh. Quán được dựng sát bên cạnh con suối nước mát, bây giờ đã khang trang thoáng đãng hơn xưa nhiều với khách vào ra tấp nập

Du khách có thể tắm nơi đầu nguồn suối Mát hoặc bơi lặn trong hồ tắm rộng, xây lưng chừng đèo với nguồn nước được dẫn từ suối về. Được vẩy vùng trong làn nước mát nơi đèo cao trong khung cảnh thiên nhiên kỳ thú, bao mệt mỏi và âu lo đời thường của du khách sẽ như tan biến.

Sau khi lội bộ, tắm mát, nghỉ ngơi, du khách sẽ thưởng thức những món ăn đặc sản, trong đó độc đáo hơn cả là món gà đèo Le. Gà luộc ở đây là những chú gà ta được chăn thả quanh đồi, sau khi làm sạch, gà được bỏ vào nồi nước đang sôi để luộc chín. Vớt gà ra, người ta nhanh tay đổ gạo, đậu xanh vào nồi nước luộc để có món cháo gà thơm ngon.

Thịt gà có thể xé nhỏ trộn với rau răm, muối tiêu, chanh..., hoặc để nguyên con cho thực khách tự tay xé nhâm nhi thưởng thức. Món cháo được múc ra sau cùng, vị thơm, ngọt của gà quyện với vị cay cay, nồng nồng của rau răm, của ớt rừng giữa một không gian mênh mông lộng gió mát mẻ, bên tai là dòng suối chảy róc rách càng làm cho bữa ăn thêm thi vị.

Nhiều du khách ở đây thắc mắc tại sao gà đèo Le lại ngon đến vậy? Không ai lý giải được nhưng nhiều người tin rằng, chính nhờ nguồn nước của suối Mát nên thịt gà mới mềm và thơm như vậy, bởi nhiều người sau khi ăn xong còn mua gà sống về nhà nhưng khi luộc vẫn không thể ngon bằng ăn tại đèo Le. Tiếng lành đồn xa, món gà luộc đèo Le đã trở thành đặc sản nơi đây. Thương hiệu gà đèo Le đã vượt qua ranh giới huyện miền núi Quế Sơn, được nhiều nhà hàng vùng xuôi và thành phố lớn tìm mua, quảng bá, lôi cuốn thực khách.

Hãy đến với đèo Le nếu có dịp về Quảng Nam, ngoài việc thưởng thức món gà luộc "có một không hai" này các bạn sẽ có được những phút giây thư giãn giữa một không gian hoang sơ đầy thi vị của núi rừng xứ Quảng.

Gà luộc đèo Le

Du lịch, GO! tổng hợp, ảnh Phuot.com

Thứ Tư, 27 tháng 7, 2011

Đi xa nhớ bánh răng bừa

Trong những dịp lễ tết hay hội làng, ở Thọ Xuân, Thanh Hóa quê tôi không thể thiếu món bánh răng bừa.
Gọi là bánh răng bừa vì hình chiếc bánh vừa dài vừa nhỏ như chiếc răng bừa. Nghe cái tên, người ta dễ liên tưởng đến người nông dân. Bất cứ ai đi xa cũng không thể quên được cái mùi thơm thoang thoảng của lá chuối, lá dong hòa quyện với mùi thơm của nhân thịt và bột gạo tẻ, nguyên liệu chính làm nên chiếc bánh. Ở bên ngoài bánh được bọc bằng lá chuối hay lá dong nên nó còn tên khác nữa là bánh lá.

Cách làm bánh răng bừa không phức tạp lắm nhưng cũng chẳng đơn giản. Nó đòi hỏi ở người làm một sự kiên trì, khéo léo. Công đoạn đầu tiên để làm nên chiếc bánh đó là phải chuẩn bị nguyên liệu, lá chuối tươi đem phơi nắng hoặc hơ lửa để lá dai, dẻo hơn. Gạo để làm bánh phải ngâm qua đêm và ngâm chung với một ít nước vôi cho bánh có màu xanh. Sau khi ngâm gạo sẽ đến bước xay gạo ra cho thành nước.
.
Ngày xưa các mẹ, các bà thường ngồi lại cùng xay từng muỗng gạo cho nhuyễn bằng cối đá. Ngày nay, người ta dùng máy để xay. Nhưng xay gạo bằng tay bao giờ bánh cũng dẻo và ngon hơn nhiều so với xay bằng máy. Gạo xay xong cho vào nồi bắc lên bếp củi để lửa nhỏ liu riu, dùng tay khuấy đều nồi bột cho khỏi bị vón cục.

Đây là công đoạn khó nhất khi làm bánh răng bừa, bánh ngon hay không, được dẻo hay bị cứng, bánh mịn hay là có các đường nứt đều phụ thuộc vào tay người khuấy bột.
Nhân bánh làm bằng thịt ba chỉ, mộc nhĩ, hành củ băm nhuyễn và một chút hạt tiêu bắc, một ít gia vị nêm vào. Mùi thơm phức béo ngầy ngậy của nồi nhân làm cho ta phải nuốt nước miếng. Sau khi bột vừa chín đến là tất cả mọi người trong gia đình sẽ tập trung lại để gói bánh, người thì lau lá, người cho nhân, người gói. Không khí gia đình ấm cúng, vui vẻ hơn bao giờ hết.

Công đoạn luộc bánh cũng rất quan trọng, đòi hỏi phải chuyên nghiệp đổ nước làm sao cho lá bánh không bị vàng, khi bánh chín vớt ra rổ lá bánh vẫn xanh mướt, không rách, cùi bánh có màu trắng xanh, lá bóc phải róc vỏ… là cả một kỹ xảo của người làm bánh. Người ta lót dưới đáy nồi một lớp cuống lá chuối, cho nước xâm xấp, đặt bánh lên sao cho bánh chỉ chín bằng hơi.

Khi bánh chín rồi, những chiếc bánh phẳng phiu, đẹp nhất, nhỏ nhắn nhất cho vào đĩa thắp hương cúng tổ tiên, phần còn lại cho vào một cái rổ tre nhỏ. Trẻ con trong nhà tranh nhau ăn, tranh nhau thổi chiếc bánh nóng hổi thơm phức mùi lá chuối, lá dong. Một chén nước mắm cho thật nhiều chanh, tiêu hoặc ớt không thể thiếu được bên cạnh đĩa bánh răng bừa  và chính nó sẽ làm giảm bớt cái lạnh của mùa đông giá buốt.

Du lịch, GO! - Theo Thanhnien, C4ehcm, internet

Thứ Hai, 25 tháng 7, 2011

Gỏi cuốn, phở Việt lọt 'Top 50' món ngon nhất thế giới

Chuyên trang du lịch CNN mới đây đã tổ chức bình chọn 50 món ăn ngon nhất thế giới, kết quả được công bố có sự góp mặt của gỏi cuốn và phở Việt Nam.

< Các nguyên liệu làm gỏi cuốn luôn tươi ngon, bắt  mắt.

Trong bài viết giới thiệu 50 món ăn ngon nhất thế giới, CNN khẳng định một số loại thực phẩm bạn bắt buộc phải ăn để tồn tại nhưng có nhiều món ăn xứng đáng đi một vòng trái đất để thưởng thức tận nơi. “Không có tình yêu nào tuyệt vời hơn tình yêu dành cho ẩm thực”, George Bernard Shaw, nhà viết kịch nổi tiếng người Anh, từng nói.

Câu nói của ông đã trở thành “chân lý” khi ẩm thực thế giới đã đạt đến tinh hoa với những món ăn không thể tuyệt vời hơn. Sau khi tổ chức bình chọn trên các mạng xã hội, CNN đã chọn ra 50 món ăn ngon nhất thế giới, từ Tây sang Đông, Âu sang Á, châu Mỹ cho tới châu Phi.
.
< Gỏi cuốn được ví như món ăn nhanh của người Việt.

Khu vực châu Á - Thái Bình Dương có sự góp mặt của hai đại diện duy nhất là Thái Lan và Việt Nam với số lượng món ăn nhiều nhất. Ngoài các món ăn phổ biến ở thiên đường du lịch Thái Lan, nem cuốn và phở Việt Nam vinh dự sánh ngang với sushi Nhật Bản, pizza Italy, som tam Thái Lan hay kebab Iran.

Gỏi cuốn, có tên tiếng Anh là summer roll, có nguồn gốc từ miền Nam nhưng đã trở nên phổ biến không chỉ trên khắp Việt Nam, mà còn lan tỏa ra thế giới. Cắn một miếng gỏi cuốn, cảm nhận vị dai của bánh tráng, vị béo đậm đà của thịt ba rọi trộn lẫn vị ngọt của tôm luộc, thêm một chút mặn mà của nước chấm, cái mát lạnh, cay nồng nơi đầu lưỡi của rau sống tạo thành một bản hợp tấu làm dậy lên các cung bậc vị giác. Đó là lời nhận xét ưu ái của không ít các bài báo dành cho gỏi cuốn Việt Nam.

< Món gỏi cuốn có nguồn gốc từ miền Nam.

Từ người sang trọng đến lớp bình dân, từ Ta đến Tây, đã ăn một lần thì nhớ mãi. Món gỏi cuốn khá phổ biến, đi đâu cũng gặp. Nó xuất hiện ở khắp các quán hàng rong nằm rải rác trong những con hẻm nhỏ, hay những tiệm ăn uống ven đường và cả trong nhà hàng, khách sạn.

Trong ẩm thực Việt, chẳng món ăn nào “dễ chịu” như gỏi cuốn. Dùng làm thức ăn nhẹ cũng được, mà ăn no căng bụng cũng không ngấy. Ăn gỏi cuốn trong quán, hay ngồi xổm bên gánh hàng rong, thậm chí vừa đi đường vừa ăn cũng thấy ngon. Chả thế mà thỉnh thoảng lại bắt gặp một vài anh Tây ba lô trên đường phố, tay cầm gỏi cuốn, tay bưng chén nước chấm, miệng nhai ngồm ngoàm, mắt vẫn lanh lẹ nhìn xe cộ. Không chỉ vậy, gỏi cuốn đã trở thành món ăn không thể thiếu trong thực đơn của các nhà hàng Việt tại trời Tây. Thậm chí người nước ngoài còn ví gỏi cuốn là fastfood của người Việt, cũng giống như các thương hiệu nổi tiếng KFC hay McDonald nhưng về độ thanh đạm, tươi ngon và tốt cho sức khỏe thì không có loại đồ ăn nhanh nào sánh bằng.

< Phở là món ăn rất nổi tiếng ở nước ngoài.

Khi nhắc đến văn hóa ẩm thực Việt Nam không thể không nói tới phở. Phở đã trở thành biểu tượng của đất Việt cũng như thành danh ở nước ngoài. Bất cứ nơi nào trên thế giới có người Việt sinh sống là nơi đó có món ăn đặc trưng này. Từ Tây sang Đông, phở Việt đã trở nên quen thuộc và được nhiều người ưa chuộng. Chả thế mà, phở không lần nào vắng mặt trong các cuộc bình chọn cũng như giới thiệu nhà hàng Việt tại nước ngoài.

< Nhiều thực khách Tây 'mê' món phở Việt Nam.

Thành phần chính của phở là bánh phở và nước dùng cùng với thịt bò hoặc gà cắt lát mỏng kèm theo các gia vị như: tương, tiêu, chanh, nước mắm, ớt... Tùy vùng miền mà phở có phương pháp chế biến và hương vị khác nhau ít nhiều. Trên bình diện quốc tế, đã có rất nhiều nhà hàng chuyên về phở của người Việt được mở ra ở Bắc Mỹ, châu Âu và Australia. Riêng tại Mỹ, thống kê không chính thức cho biết doanh thu các cửa hàng phở Việt Nam lên tới 500 triệu USD một năm.

Phở với người Việt là quốc hồn, quốc tuý, còn người nước ngoài là thức ăn nhanh, giản tiện, lại ngon, ăn cả buổi sáng, trưa, chiều và tối đều được, nên rất cuốn hút. Tính đến nay, hầu hết các báo có tên tuổi của Mỹ như New York Times, Los Angeles Times, Boston Globe... đều có bài viết về phở, ca ngợi phở như là “thương hiệu văn hóa ẩm thực của người Việt tại Mỹ”.

Du lịch, GO! - Theo Datviet

Chủ Nhật, 24 tháng 7, 2011

Bánh Gối Nam Đinh dân dã mà ngon

Bánh gối được coi là món quà “tâm hồn”của tuổi học trò. Bánh gối là món ăn ngon lại rẻ, dễ chế biến, thuờng được các nữ sinh chọn để “trổ tài” vào ngày nghỉ cuối tuần hay khi có dịp tụ họp nhóm bạn bè cùng lớp.

Bánh gối có vỏ bánh và nhân bánh được tạo thành hình bán nguyệt. Bánh có màu vàng ruộm, phồng xốp và có đường viền quanh mép bánh như một dải đăng ten bao quanh chiếc gối của trẻ sơ sinh. Nhân bánh được làm bằng thịt nạc vai xay nhuyễn, mộc nhĩ, nấm hương thái chỉ, một lọn miến dong đã ngâm nước, cắt nhỏ cùng một ít su hào hoặc củ đậu thái hạt lựu, thêm hạt tiêu, mì chính vừa đủ rồi trộn đều với một quả trứng gà.

Vỏ bánh làm bằng bột mì nhồi kỹ với trứng và muối theo tỷ lệ nhất định rồi cán mỏng, cắt thành hình tròn có đường kính 10-15 cm. Hoặc có thể dùng bột mì pha với nước vôi trong và một chén nhỏ bia tạo thành một dung dịch loãng.

Đặt lá bánh đa nem lên trên chiếc đĩa, quét dung dịch bột mì đã pha sẵn rồi đặt lá bánh đa khác lên trên. Khi gói, để vỏ bánh ngay ngắn, xúc nhân cho vào giữa, khẽ chấm ngón tay vào bát nước lã bôi một vòng quanh rìa vỏ bánh rồi gập đôi vỏ bánh lại, miết cho 2 mép vỏ bánh dính vào nhau. Đây cũng là bí quyết để cho chiếc bánh được phồng căng, giòn xốp sau khi rán.

Người kỹ tính còn vặn vỏ bánh thành hình cuốn thừng để chiếc bánh thêm hấp dẫn, bánh gói đến đâu, cho ngay vào chảo dầu sôi đến đấy. Nhanh tay lật dở để bánh vàng đều hai mặt.

Thường thì bánh chín đến đâu, ăn ngay đến đấy mới thấy hết vị thơm lừng giòn tan cùng với nước mắm pha có ớt, tỏi, chua ngọt và rau sống, dưa góp. Còn khi ăn đông người thì chỉ rán bánh chín đến 80% rồi vớt ra. Đợi khi rán hết mẻ bánh mới chuyển sang chiếc chảo khác, chao dầu lại một lần nữa cho bánh chín hẳn, vàng ruộm mới bưng lên cùng thưởng thức.

Món bánh gối ăn hấp dẫn nhất là vào lúc tiết trời giá lạnh,cùng bạn bè bên bếp lửa hồng, người gói bánh, người nhặt rau, người nhanh tay lật giở những chiếc bánh vàng ruộm…để rồi cùng nhau thưởng thức mới thấy hết sức quyến rũ của món ăn do chính tay mình làm ra. Nếu không có điều kiện chế biến, những cô cậu học trò khi tan trường vào các buổi chiều mùa đông thường tìm đến hàng bánh gối ở các góc phố Bắc Ninh, Hoàng Văn Thụ, Minh Khai – TP.Nam Định để thưởng thức.

Du lịch, GO! - Theo Tổng cục Du lịch, ảnh sưu tầm

Thứ Sáu, 22 tháng 7, 2011

Cá trầu nướng ngói ngày xưa...

Mỗi dịp cuối tuần hay nghỉ phép chúng tôi lại kéo về khu vườn lớn có hai ngôi nhà yêu quý của gia đình tôi và cậu mợ để ôn lại những chuyện xưa yêu dấu, để được mợ đãi món cá trầu nướng "chuyên nghiệp" được “tôi luyện” suốt 20 năm...

Ngày cậu đưa mợ về giới thiệu, bà ngoại tôi phản đối cái lối con gái hiện đại, tóc quăn tít kiểu Tây phương, mặc "rốp" khoe chân lỏng khỏng. Ngày buộc phải vào tận miền Nam cưới mợ cho cậu vì sự quyết tâm đến cùng của con trai, ngoại vẫn khó chịu ra mặt. Nhưng đến ngày đãi khách ở quê nhà, mợ tôi trút bỏ sự lộng lẫy của cô gái thành thị miền Nam để giới thiệu với mọi người món cá trầu nướng ngói thì ngoại có cái nhìn khác về mợ..
Bà ngoại tôi sinh ít con, chỉ có mẹ tôi và cậu, vì vậy mẹ và cậu quấn quýt nhau như hình với bóng từ nhỏ. Lớn lên, có gia đình riêng thì nhà tôi và gia đình cậu cũng như một khối gia đình lớn sống sum vầy trong khu vườn rộng đến cả ngàn mét vuông của ông bà ngoại.
.
Với cậu, mẹ tôi vừa là chị vừa là người bạn thân chí cốt để cậu có thể than thở đủ chuyện trên trời dưới đất không thể kể cùng bà ngoại tôi và cả chuyện lấy vợ của mình. Mẹ trở thành nhịp cầu nối cho mối lương duyên của cậu mợ và là “đài bắt sóng” giảng hòa cho mối quan hệ mẹ chồng nàng dâu của ngoại và mợ tôi.

Ngày mợ bỏ hết mọi thứ từ miền Nam xa xôi về miền Trung quê tôi làm dâu, nhiều người trong họ nói khích ngoại cưới "cô dâu Tây" về nhà. Ngoại ấm ức bực dọc. Cậu khổ sở, còn mợ thì sợ hãi như chuẩn bị bước ra chiến trường. Không cam lòng nhìn cảnh gia đình bức bối, ngột ngạt, mẹ tôi động viên mợ và tìm cách để mợ chứng tỏ ngoại tôi không chọn nhầm dâu.

Xem lịch gần đến ngày ra mắt mợ với dòng họ, mẹ dặn mợ phải tự mình nấu một món miền Nam thật ngon ra mắt mọi người. Mợ lắc đầu nguầy nguậy bảo chưa bao giờ tự tay làm gì, ở nhà chỉ toàn nhìn thấy má làm là chính. Mẹ phải động viên "chủ yếu ở tấm lòng của mình".

Đến ngày ra mắt, mới tờ mờ sáng đã thấy mợ qua gõ cửa nhà tôi nhờ mẹ dẫn ra chợ mua cá lóc (quê tôi gọi là cá trầu). Cá trầu được mợ cho muối vào chà sạch nhớt nhưng làm không quen nên những con cá trầu cứ tuột liên tục khỏi tay mợ, mẹ và cậu tôi phải lao vào làm giúp. Mợ cười mếu như hối lỗi.

Cá trầu làm sạch nhớt, sau đó được mợ luộc qua nhanh để gỡ xương lấy phần nạc. Những miếng nạc cá trầu này được mợ cho vào dầu ăn đã phi sẵn với hành, ướp gia vị và hành tỏi xắt nhỏ trộn đều cho thấm.

Cậu và mẹ tôi thì hì hụi thổi một bếp than đỏ hồng chờ sẵn, tấm ngói được mợ chà sạch và đem phơi khô từ hôm trước đã được mẹ tôi cho để sẵn trên bếp than hồng theo sự "chỉ đạo" của mợ. Những miếng nạc cá trầu thấm gia vị được mợ cẩn thận đặt từng miếng một lên tấm ngói đã nóng trên bếp than hồng để nướng chín.

Mọi người ở quê tôi mắt tròn mắt dẹt nhìn món ăn được chế biến cầu kỳ lạ mắt. Mợ nói nướng thẳng trên bếp than thì cá sẽ bị cháy lớp ngoài và không thấm gia vị, còn nướng trên ngói cá sẽ có hương vị đặc biệt hơn, mùi than cháy đỏ cộng hưởng cùng đất sét của ngói sẽ “trị” được mùi tanh của cá trầu.

Món cá trầu nướng ngói của mợ tôi miếng to, miếng nhỏ, miếng bị vỡ vụn bởi bàn tay gia chánh còn vụng về nhưng mọi người trong dòng họ ai cũng khen tấm tắc, khen tấm lòng cô cháu dâu miền Nam cố gắng hòa đồng người nhà quê. Ngoại tôi không nói gì nhưng ánh mắt không còn khó đăm đăm như ngày nào nhìn mợ.

Thời gian trôi, ngoại tôi đã ngậm cười nơi chín suối, lũ nhóc chúng tôi ngày nào còn ê a, chạy nhảy rồi ngồi lọt thỏm trong lòng cậu tranh với các em nay đều đã lớn phổng, đi làm rồi lập gia đình riêng, nhưng mỗi khi có dịp lại kéo về nhà để được mợ đãi món cá trầu nướng. Đó là món cá nướng "chuyên nghiệp" chứ không phải món cá trầu nướng “toát mồ hôi hột” ngày nào của mợ - cậu tôi dí dỏm nói.

Du lịch, GO! - Theo DulichTuoitre, internet

Thứ Hai, 11 tháng 7, 2011

Về Kom Tum ăn đặc sản gỏi lá

Khi đến với thành phố Kon Tum, hỏi ở đây có đặc sản gì mà nơi khác không có, anh bạn “ thổ địa” của tôi không ngần ngại giới thiệu ngay lập tức món gỏi lá.

Để có món ăn này phải có ít nhất từ bốn chục loại lá trở lên gồm mơ lông, đinh lăng, lá sung, lá cải, tía tô, lá bứa, hồng ngọc, lá chua, lá ổi, lá chùm ruột, lá xoài và các loại rau gia vị như hành, rau húng, rau thơm, rau é tím... Trong đó, 3 loại lá không thể thiếu là mơ lông, đinh lăng và lá sung, ngoài tác dụng tạo hương vị còn dùng để quấn gỏi mới được tính là gỏi lá.

Với những loại thông thường có thể dễ dàng mua hoặc tìm thấy trong các chợ song những loại lá như phải đi rừng mới lấy được như lá vừng, bạch sung, hồng sung hoặc những loại thường mọc ở những bờ sông, vách suối lá kim cang, hồng ngọc, lá con khỉ, é trắng, lá dấn, trường sanh,...

Đi kèm với lá là gỏi nên ngoài đĩa thịt heo ba chỉ luộc thái mỏng có tác dụng tạo độ béo và đĩa tôm kho còn phải có gỏi cá. Thông thường các quán ở đây thường làm gỏi bằng cá lóc, cá hồng hay cá ngừ. Cá sống thái lấy thịt, cắt nhỏ ướp với gừng, chanh, riềng trong thời gian ít nhất 5 tiếng đồng hồ để cá tự chín.

Trên bàn bày một mớ lá xung quanh với một tô lớn chứa gia vị  nước chấm được nấu từ hèm rượu với tôm giã, thịt heo băm, trứng mắm ruốc và mè. Thứ này được nấu sền sệt như cháo đặc có màu vàng nghệ. Hèm rượu chọn nấu phải là hèm rượu nếp, mới cất xong. Tôm không nhỏ quá, lớn quá, nếu không có tôm tươi thì dùng tôm khô cũng được. Thịt heo ba chỉ băm nhỏ. Món gia vị này có mùi rất lạ của tôm, thịt heo, trứng được hòa vào mùi thơm của men rượu tạo nên một thứ nước chấm đặc sắc, đậm đà.

Nhìn chung để có món gỏi lá đòi hỏi các công đoạn chế biến cũng lắm công phu. Khi lấy các loại lá từ rừng về phải biết cách bảo quản sao cho thật tươi, lá phải xanh non.

Riêng loại cá ăn kèm phải trải qua nhiều công đoạn chế biến róc thịt, lược bỏ hết xương ra, thái mỏng, cho vào một ít chanh và ướp với gừng, riềng trong nhiều giờ để thịt cá chín và hết mùi tanh, đủ độ cứng và thấm gia vị.

Khi ăn món gỏi lá ta chọn một chiếc lá lớn như lá sung hay lá mơ để gói bên ngoài.
Chiếc lá lớn này được đặt trên bàn tay, nếu lá chưa đủ lớn thì có thể chọn thêm một chiếc lá loại khác để gói. Sau đó tìm những lá nhỏ rải một lớp trên lá lớn, gắp thịt heo hoặc cá rồi gói lại.

Múc gia vị nước chấm vào chén hoặc lấy muỗng xúc từng ít một cho vào đầu gói lá đã cuốn để ăn. Khi ăn được một chút thì cắn chừng một nửa quả ớt chỉ thiên còn xanh và một hạt muối trắng nhỏ để ăn lẫn với gỏi lá. Ai lần đầu tiên thưởng thức món này đều không khỏi ngạc nhiên bởi vị thơm của các loại lá hòa quyện lẫn nhau  chua, cay, đắng, chát đều có khiến thực khách ăn chẳng bao giờ thấy ớn.

“Nếu đã đến Kon Tum thì phải tìm thưởng thức cho được món gỏi lá  còn không thì coi như chưa đến!” - lời anh bạn tôi nói chắc nịch sau khi nhâm nhi mấy ly rượu cần đặc sản cao nguyên với món lá rừng nơi chốn đại ngàn rừng xanh này.

Du lịch, GO! Theo báo Laodong, ảnh internet

Chủ Nhật, 10 tháng 7, 2011

Ẩm thực dân dã Hội An

Cũng như nhiều miền quê Việt Nam, phố cổ Hội An có nhiều món “quà quê” dân dã, ăn xong vẫn chưa hết thèm. Dường như không ở đâu lại nhiều món ngon, đặc sản như ở Hội An, và người lữ khách có thể dễ dàng tìm thấy tại hầu hết các hàng rong khu phố cổ mà không cần phải đến một nhà hàng sang trọng nào.

1.Cao Lầu 

Nguồn gốc của món cao lầu đến nay vẫn là đề tài đàm luận của nhiều người. Có người cho rằng cao lầu có xuất xứ từ xứ sở hoa anh đào (Nhật Bản), có nét giống món mì ở vùng Icé (Ice udon). Có người lại cho rằng cao lầu có xuất xứ từ Trung Quốc, nhưng những người Hoa kiều ở Hội An không công nhận đây là món ăn truyền thống của họ. Dù có nguồn gốc từ đâu thì cao lầu vẫn là món ăn riêng có của Hội An và ngày càng được nhiều thực khách trong, ngoài nước biết đến.

Sợi cao lầu được cán từ bột gạo ngâm với nước tro, hấp qua 3 lần lửa, nên cứng và có màu vàng tự nhiên. Nhân cao lầu chủ yếu là thịt xá xíu, trộn với ít tép mỡ làm bằng sợi mì chiên dòn ăn với sợi cao lầu, rau sống, xì dầu, tương ớt.

Cách chế biến cao lầu mới nghe qua trông rất đơn giản nhưng ẩn chứa nhiều bí quyết nghề nghiệp khó mà khám phá. Có người bảo rằng, ngày xưa người ta phi ra tận đảo Cù Lao Chàm lấy củi đốt thành tro đem về ngâm với nước giếng Bá Lễ ở Hội An thì mới chế biến được sợi cao lầu ngon như ý.

2. Mỳ Quảng 

Mỳ Quảng, từ lâu đã được biết đến như cái “hồn” nghệ thuật ẩm thực của vùng đất Quảng Nam. Bây giờ, ngoài Quảng Nam ra, nhiều nơi cũng có quán ăn mì Quảng. Mì Quảng theo chân những người Quảng Nam tha hương và cùng họ có mặt khắp nơi như người bạn đồng hành tri kỷ. Mì Quảng thường có mặt trong những bữa tiệc “vọng cố hương” của người Quảng Nam xa xứ.

Cũng như phở, bún hay hủ tiếu, mì Quảng cũng được chế biến từ gạo nhưng có sắc thái và hương vị riêng đặc biệt. Mì được làm từ lá bánh tráng thái thành sợi, nhân mì thường được chế biến từ nhiều loại nguyên liệu khác nhau: tôm, gà, thịt heo, thịt bò, cá lóc, cua… và có cả mì chay dành cho người hành đạo. Nhưng là nhân gì đi nữa thì mì Quảng cũng không thể thiếu cái bánh tráng nướng, trái ớt xanh, lát chanh, vài hạt đậu phộng và đĩa rau sống đi kèm.

Rau để ăn mì Quảng thường là rau muống chẻ nhỏ hoặc cây cải con trộn với búp chuối non thái mỏng, rau thơm, rau quế…Đến Quảng Nam, du khách dễ dàng bắt gặp nhiều quán ăn mì Quảng nằm dọc trên tuyến đường quốc lộ 1A luôn đông đúc khách sành ăn: quán mì gà Bình Nguyên (huyện Thăng Bình), quán mì gà Kỳ Lý (thị xã Tam Kỳ), quán mì tôm cua Cây Trâm (huyện Núi Thành), quán mì bò Cẩm Hà (thị xã Hội An)…

3. Bánh su sê 

Bánh su sê hay còn gọi là bánh phu thê. Tên gọi này gắn liền với câu chuyện kể về vợ chồng người lái buôn thuở xưa. Chuyện kể rằng, trước lúc người chồng lên đường đi buôn ở phương xa, người vợ làm bánh tặng chồng và thề rằng cho dù xa nhau nhưng lòng nàng vẫn luôn ngọt ngào, đậm đà như bánh. Chồng cảm động đặt tên cho bánh là phu thê (tức bánh vợ chồng). Chẳng ngờ đến phương xa, người chồng bị say đắm bởi sắc đẹp của các cô gái lạ và không muốn quay về. Người vợ ở nhà biết tin liền làm bánh gởi cho chồng kèm theo lời nhắn:
“Từ ngày chàng bước xuống ghe
Sóng bao nhiêu đợt bánh phu thê rầu bấy nhiêu”

Nhận được bánh và lời nhắn của vợ, người chồng hối hận liền tức tốc quay về và không còn nghĩ đến chuyện thay lòng đổi dạ nữa. Từ đó bánh phu thê thường hay có mặt trong các tiệc cưới nhằm nhắn nhủ lời thuỷ chung đến các đôi vợ chồng trẻ.
Bánh su sê có màu vàng nhạt, dẻo, vị ngọt và thơm. Bánh cũng được bao bọc bởi một lớp lá chuối giống như bánh ít lá gai. Là một trong những loại đặc sản được bày bán nhiều nơi ở Hội An.

4. Bánh bao bánh vạt 

Do có hình dáng nhỏ nhỏ, xinh xinh và có màu trắng trông như những đoá hoa hồng nên bánh bao bánh vạc còn có tên gọi là White Rose (hoa hồng trắng). Đây là món ăn khá phổ biến trong thực đơn của các nhà hàng, quán ăn ở Hội An. Bánh báo bánh vạc là hai loại có tên gọi khác nhau nhưng thường có mặt trong cùng một đĩa bánh và cùng có chung một loại nước chấm rất đặc biệt: không quá mặn, không quá nhạt và có thơm hương, vị ngọt của thịt tôm..

Nguyên liệu chính để chế biến bánh bao bánh vạc là gạo nhưng được thực hiện qua nhiều công đoạn rất công phu. Gạo xay xong phải “bòng” với nước nhiều lần (khoảng từ 15 đến 20 lần) để chọn cho được loại bột bánh ngon. Nhân bánh bao chủ yếu chế biến từ tôm tươi xay nhuyễn trộn với muối, tiêu, hành và một vài loại gia vị khác. Nhân bánh vạc thì có thêm một số nguyên liệu như: nấm mèo, giá hột, lá hành, thịt heo … đã được thái mỏng và xào chín.

Cả hai loại nhân đều được bao bọc bởi một lớp bột bánh mỏng và hấp chín qua lửa. Hiện nay, tại Hội An chỉ còn có một gia đình trên đường Hai BàTrưng sản xuất loại bánh này để cung cấp cho các nhà hàng, quán ăn phục vụ thực khách.

5. Hoành thánh 

Về xa xưa, có thể nói, Hoành thánh là món ăn ảnh hưởng từ Trung Hoa. Có nhiều tên gọi để chỉ món ăn nầy. Ở Hội An, miền Trung người ta gọi là ” hoành thánh “, trong khi đó ở miền Bắc và một số địa phương khác gọi là ” mằn thắn ” hoặc ” vằn thắn “. Muốn làm bánh hoành thánh ngon người ta phải chọn loại bột mỳ thượng hạng thì bánh mới dẻo, mềm. Trộn bột mỳ, nước, trứng gà theo một tỷ lệ vừa phải, sau đó nhồi nhiều lần cho thật nhuyễn.

Dùng một vật tròn, nặng, cán bột trên một chiếc bàn dài, phẳng. Bột cán càng mỏng thì bánh hoành thánh càng dẻo, mềm. Khi độ mỏng đạt yêu cầu dùng kéo cắt thành từng miếng nhỏ kích thước chừng 01 tấc vuông. Những miếng da bánh nầy khi được xếp gọn trong thau trông như một chồng giấy mỏng, màu phớt vàng. Đây chính là phần để làm vỏ bánh. Nhân bánh làm bằng tôm. Tôm lột vỏ, rửa sạch, thêm gia vị hành, tiêu, tỏi, mắm với tỉ lệ thịch hợp cho vào cối quết.

Khi làm bánh, người ta đặt phần vỏ bánh lên lòng bàn tay, múc nhân tôm đổ vào giữa, gói lại và bắt đều các mí cho thật khít. Kỷ thuật bắt mí đòi hỏi phải có kinh nghiệm, nếu không, khi hấp hoặc chiên phần nhân sẽ bị bung vỡ hoặc bánh sẽ không được mềm. Những chiếc bánh sống đã làm xong, nhưng còn ăn món hoành thánh thì lại có cách chế biến riêng.

Nếu muốn ăn hoành thánh nước thì bánh được lót lá chuối, cho lên xửng, đặt vào nồi hấp sơ qua cho chín lớp vỏ. Nước nhưn của hoành thánh làm bằng xương heo, chặt nhỏ, nấu rục, cho thêm vào nồi một ít nấm rơm, su, thơm (dứa), nấu chín, nêm gia vị và hạ lửa. Hoành thánh chiên: cũng với da bánh và nhân ở giữa, người ta gấp 4 mí lại thành một chiếc bánh vuông vức và cho vào chảo dầu để chiên. Khi bánh chín vàng, giòn thì gắp ra vỉ, để ráo dầu.

Chuẩn bị ít cà chua, khoai tây làm nước xốt. Xếp bánh ra đĩa, bên dưới rải một lớp rau xà lách, cà chua xét mỏng, rau thơm. Khi chan nước sốt lên mặt bánh xong là ta có được đĩa hoành thánh với những chiếc bánh vàng ươm, vuông vức, ở giữa là viên nhân tôm tròn trỉnh, thơm phức trông rất ngon miệng. Hoành thánh mỳ: tuơng tự như hoành thánh nước. Phần gia thêm ở đây là mỳ. Mỳ dùng cho hoành thánh là sợi mỳ nhỏ. Khi trụng vào với nước sôi cho chín đều, đổ ra bát. Xếp hoành thánh đã chín lên trên. Chan nước nhưn và thêm gia vị, sa tế, rau thơm…

6. Bánh ít lá gai 

Cũng giống như nhiều miền quê trên mọi miền đất nước, bánh ít lá gai từ lâu đã đi vào trong đời sống ẩm thực của người dân đất Quảng, là lễ vật đầy ý nghĩa trong những ngày Tết cổ truyền, dịp cúng tổ tiên, ma chay, cưới hỏi…

Cách chế biến bánh không quá cầu kỳ nhưng đòi hỏi sự kỹ lưỡng ở từng công đoạn chọn nguyên liệu: gạo nếp, đậu xanh, mật đường, lá cây gai, lá chuối. Bánh ít lá gai Quảng Nam có hình dáng mộc mạc, chân chất như những sản vật miền thôn dã nhưng vẫn hàm chứa cái hương vị rất riêng của vùng đất giàu lòng mến khách. Bánh ít lá gai được bày bán nhiều nhất ở Hội An, ngay trên những khu phố, chợ và trong các nhà hàng, quán ăn.

7. Bánh Xèo

Ở Hội an vào mùa mưa là “mùa thịnh” của bánh xèo. Nguyên liệu chính để làm bánh xèo ngoài gạo, đòi hỏi phải có tôm, thịt chỉ là phần phụ, hơn nữa làm bánh xèo phải ngồi bên bếp lửa liên tục rất nóng nực, vì vậy mùa mưa là mùa thích hợp nhất cho việc làm loại bánh nầy. Gạo tốt cho vào ngâm rồi xay thành nước bột gạo. Nước bột gạo cũng được pha chế sao có độ lỏng vừa phải để tạo nên cái giòn, cái dẻo của bánh.

Nếu đặc quá, bánh sẻ khô, sống. Nếu lỏng quá bánh sẽ mềm, nát, sít với chảo. Khi chuẩn bị bột và các nguyên liệu phụ như giá, thịt, dầu phụng xong, người ta bắt tay vào đổ bánh xèo. Những chiếc chảo con thân trệt được bày lên bếp như những chiếc cồng chiên trông lạ mắt. Khi chảo nóng, người ta dùng một nhúm thân hành nhúng dầu phụng thấm đều quanh chảo và đặt vào lòng chảo một vài con tôm và thịt ba chỉ xắt nhỏ. Thịt và tôm đã được ướp mắm, muối, gia vị và chấy sơ qua cho vừa chín. Dầu chín toả mùi thơm thì dùng vá múc nước bột gạo đổ vào chảo. Bột gặp dầu nóng phát ra tiếng kêu “xèo, xèo” nghe rất vui tai. Có lẽ vì những âm thanh nầy mà người ta đặt tên bánh là bánh xèo chăng?

Sau khi đã cho bột vào chảo, người chủ cho lên trên một ít giá đậu xanh rồi đậy vung lại cho bánh chín. Lúc bánh chín giòn được gắp ra sắp lên đỉa để mời khách. Nhìn những đỉa bánh vàng giòn, thơm ngát, thực khách đã muốn thưởng thức ngay. Nước chấm của bánh xèo cũng được chế biến khá kỷ lưỡng. Người ta dùng nước tương trộn với gan heo, mè, đậu phụng xay nhuyễn, sau đó dùng dầu tô chín và pha thêm ít bột gạo, gia vị để làm thành một loại nước chấm lạ miệng. Bánh phải ăn nóng mới ngon, đúng điệu, tức làm đến đâu ăn đến đấy và khi ăn không dùng đủa, muỗng mà chỉ dùng tay. Cách thưởng thức bánh xèo ngoài việc dùng khứu giác, vị giác ra, bắt buộc người ăn phải dùng đến xúc giác, thính giác mới thấy hết phần hấp dẫn.

8. Bánh Lăn

Hằng năm, vào những dịp Tết âm lịch hay những ngày giỗ, bà con Hội an và các vùng lân cận như Điện Bàn, Đà nẳng đổ về Hội an để mua được Bánh Lăn về cúng ông bà, tổ tiên và làm quà cho những người thân trong gia đình, dọng họ.

Để làm được những cái bánh thơm ngon, đòi hỏi phải có 1 – 2 người thợ bánh phải chịu nhọc nhằn qua nhiều cung đoạn khác nhau. Trong một thời gian nhất định, bột nếp phải đem rang, gừng bỏ củ vào cối giã cho nát. Sau khi bột nếp rang xong và gừng đã giã nát, người thợ làm bánh bắt đầu trộn lần lượt gừng, đậu phụng, mè lên bột nếp và đổ nước đường đã thắng vào. Người thợ vừa dùng cây khuấy đều, vừa nhồi bánh để nước đường thấm vào bột. Nhồi đến khi nào bột dẻo. Người thợ tiếp tục khâu quan trọng: lăn bánh là khâu tạo nên những cái bánh nho nhỏ xinh xinh.

Đó là cái bánh mịn màng với màu trắng trong, với mùi thơm của gừng hoà quyện trong hương thơm nồng của bánh làm cho bạn vừa đưa lên ngửi thì lưởi đã hỏi thăm.

9. Xí Mà (Chí Mà Phù) 

Tại phố cổ Hội an, bên cạnh những món ăn mang tính truyền thống địa phương còn có khá nhiều món ăn “ngoại nhập” từ những thế kỷ trước. Ngoài các món: Tàu Xá, Lường Phảnh, Xí Mà (Chí Mà Phù) là một trong những món ăn độc đáo, tiêu biểu, được đông đảo cư dân địa phương và du khách gần xa ưa thích. Nhiều người cho rằng, món ăn nầy có nguồn gốc từ Trung Hoa. Xí mà là tên gọi theo tiếng Quảng Đông ( Trung Quốc ).

Đúng ra phải đọc là “Chí Mà” nhưng từ lâu người ta đã đọc thành Xí Mà, mãi cho đến nay nhiều người vẫn quen gọi như thế. Nguyên liêu làm Xí Mà chính là mè đen, ngoài ra còn có các loại: bột khoai, thanh địa, rau má, rau mơ, đường, những thứ nầy toàn là những nguyên liệu sẳn có của địa phương, duy chi có thanh địa là một vị thuốc của đông y phải mua ở tiệm thuốc. Xí Mà được nấu trong nồi kim loại bình thường, khi chín người ta vẫn để nguyên trong nồi và gánh đi bán.

Xí Mà chín có dạng hơi đặc như chè tàu xá, chè đậu xanh, nhưng lại có màu đen ít mùi, khi ăn thì mới nghe thoang thoảng mùi thơm của mè đen và mùi của rau mơ, rau má. Xí Mà là một món ngọt độc đáo, hấp dẫn khác xa những món ngọt thông thường về chất lẫn hương vị, nó không chỉ là món ăn ngon mà còn là một ” thang thuốc bổ” bởi các nguyên liệu để nấu Xí Mà như là các vị thuốc để hợp thành ” thang thuốc bổ” ấy.

10. Bánh Ướt (Bánh Đập)

Bạn đã một lần nếm thử bánh ướt Cẩm Nam chắm mắm nêm bên bờ sông Hoài dưới bóng tre râm mát ?
Một đĩa bánh ướt mỏng tang, một vài kẹp bánh tráng nướng cũng giòn tan và một chén mắm nêm kèm chút tương ớt. Bạn đã có thể thưởng thức hương vị dân dã Hội an rồi đó !

Bánh ướt được tráng từ bột gạo. Chọn loại gạo ngon, sàng sảy sạch sẽ tạp chất, vo gạo sạch rồi ngâm từ 3 – 4 giờ sau đó đem xay bột mịn. Tỷ lệ gạo và nước thường được ước lượng do kinh nghiệm của người làm bánh để có bánh ngon dẻo không bị rách, nhão. Để tráng bánh ướt người ta dùng lò tráng – lò thường được đắp đất sét để giữ nhiệt. Quan trọng nhất là kỷ thuật căng vải trên miệng nồi. Vải không được căng lắm cũng như trũng lắm. Khi nước đã sôi già, múc một vá nước bột trải đều theo hình xoáy tròn trên mặt vải. Đậy nắp kín sau một phút thì bánh chín. Dùng một đủa tre được chút mỏng từ từ lật mí rồi vớt bánh ra. Người ta thường xoa dầu ăn giữa hai lớp bánh và dùng lề bằng lá chuối để kẹp bánh.

Bánh ướt có thể phơi một nắng rồi đem nướng than. Khi ăn thường kẹp một bánh tráng nướng mỏng và một bánh ướt – có lẻ vì thế mà người ta còn gọi là Bánh Đập.

11. Bánh Bèo 

Trong các món ăn chế biến từ gạo, sau mỳ Quảng, bánh bèo là món ăn chiếm được sự ưa chuộng của đông đảo cư dân Hội An, nhất là cư dân các vùng nông thôn. Để làm bánh bèo, người ta chọn loại gạo ngon cho vào ngâm nước để gạo mềm rồi xay thành nước bột mịn. Bánh ngon hay dở phụ thuộc phần lớn vào khâu xay nầy. Nước bột không được quá đặc, vì đặc bánh sẽ cứng, nếu lỏng quá bánh sẻ nhão, không đứng tròng ( chén bánh không trũng ở giữa). Nước bột này khi lấy tròng xong được cho vào chén rồi sắp lên vỉ tre đặt vào nồi để hấp.

Bánh chín được vớt ra để chồng úp lên nhau cho nguội. Chén bánh khi chín trắng tinh, mềm mướt, giữa lại có một xoáy tròn thật là ngộ nghĩnh. Chén để làm bánh bèo là một loại chén bằng đất nung tráng men, nhỏ hơn chén ăn thông thường, mà tròn trịa dể thương. Nhưn ( nhân ) bánh bèo chủ yếu được làm từ những sản vật địa phương, đó là tôm thịt…

Tôm bỏ đầu băm nhỏ, thịt xắt nhỏ hạt lựu, trộn vào với tôm, ướp với gia vị, pha thêm chút bột điều cho tăng phần hấp dẫn rồi đưa lên bếp xào chín, hoà thêm ít nước bột gạo đổ vào, sao cho nhưn chín có dạng sền sệt màu đỏ hồng, vị ngọt béo lẫn vị cay the và thơm là đạt yêu cầu. Nhưn nấu chín được đựng trong một chiếc nồi con, trên mặt rải một lớp tiêu lấm chấm đen và vài cộng hành xanh xanh cắt nhỏ. Khách vào quán, người chủ sắp nhiều chén bánh lên khay, múc nhưn đổ vào, thêm dầu mở, tương ớt, hành thơm rồi bày lên bàn.

Tuỳ theo khẩu vị của người ăn, có thể thêm tí nước mắm hay tí ớt vào. Nhìn chén bánh bèo trắng phau, nhưn giữa màu đỏ hồng điểm tôm thịt như nhuỵ một đoá hoa đang khoe hương khoe sắc. Lại thêm mùi sực nức, đầy hấp dẫn khiến cho người ăn muốn ăn một lần hết mấy chục chén bánh bèo cho hả dạ Dụng cụ để ăn bánh bèo không phải đủa, cũng không phải muỗng mà là một thanh tre vót hình lưỡi dao, gọi là “dao tre”. Lối ăn thế nầy cũng gợi bao sự hiếu kỳ cho khách và cũng là lối ẩm thực khác biệt giữa bánh bèo và các loại bánh được chế biến bằng gạo.

12. Đậu Hủ 

Đậu hủ là một món ngọt dân dã phổ biến ở Hội An. Tuy là món ăn thông thường làm bằng đậu nành, nhưng để làm được nó là cả một quá trình chế tác không đơn giản và đỏi hỏi phải có kinh nghiệm “gia truyền” mới có thể làm được.

Để làm đậu hủ, người ta dùng đậu nành tróc sạch vỏ, ngâm nước, đem xay nát rồi cho vào một tấm vải, bòng ( lọc ) lấy tinh chất của đậu, sau đó cho vào nồi nấu pha thêm thạch cao cho sữa đậu dể đông. Thạch ở đây dưới dạng khối rắn như phèn sa, phèn chua.

Trước khi pha vào sữa đậu, người ta cho thạch vào nồi nung nóng, sau đó đem nghiền nát thành bột. Công đoạn nầy đỏi hỏi kinh nghiệm nhiều nhất vì nếu như pha nước, pha thạch không đúng tỉ lệ và không quen tay thì sửa đậu sẻ không đông mà bị vữa. Đậu hủ ngon đúng điệu cũng nhờ một phần nhỏ của nước đường. Để nước đường tăng phần đặc sắc người ta giã nhỏ một ít gừng cho vào, làm cho vị đường có vị cay ngọt, mặn nồng khó quên.

Hủ đựng đậu thường được làm bằng hủ sành giản dị, chung quanh quấn một lớp rơm rạ để giữ cho êm hủ đậu và giữ độ nóng cho đậu bên trong, bên ngoài có một giỏ tre bảo vệ và để tiện cho việc vận chuyển gánh đi. Hàng ngày trên các đường phố Hội An, các bà các cô kĩu cà kĩu kịt gánh đậu hủ trên vai rao bán khắp nơi. Những gánh đậu ấy, những tiếng rao ấy cũng góp phần tô điểm sắc thái cho phố cổ thân thương.

13. Bánh Đậu Xanh 

Bánh đậu xanh ở Hội An có lịch sử lâu đời. Từ thế kỷ thứ XVIII, bánh đậu xanh đã là một món quà có giá trị được cư dân địa phương dùng để dâng tặng các quan lại. Trong một lần Vua Minh Mạng tuần du vào Quảng Nam, cư dân ở đây đã dâng tiến loại bánh đậu xanh thượng hạng ở phố Hội An để ngài ngự dụng.
Tiếng thơm nầy không phải ngẩu nhiên mà có. Cũng là đậu xanh, nếp, đường, nhưng chiếc bánh ở phố cổ Hội An có hương vị và cách trình bày riêng. Những chiếc bánh đậu xanh ở đây có dáng hình tròn hoặc vuông. Cũng là bánh đậu xanh ướt nhưng nó không quá bở và mềm như bánh đậu xanh Hải dương. Nó có độ dẻo vừa phải để khi ngậm vào miệng không tan ngay. Một số loại bột thơm cũng được sử dụng khéo léo để tăng hương vị của bột đậu.

Lại có loại bánh đậu xanh khô. Người ta trộn bột đậu xanh, nếp, đường theo một tỉ lệ vừa phải, cho vào khuôn nhỏ bằng gỗ để làm nên những chiếc bánh đậu xanh xinh xắn. Sau đó đem sấy bánh trên lò than để chúng săn cứng, giòn, thơm. Đặt biệt là loại bánh đậu xanh khô có nhân thịt. Đây chính là sản phẩm độc đáo của phố Hội và thật đáng tiếc cho ai đến Hội An mà bỏ qua dịp để nếm thử những chiếc bánh in nầy. Chúng vừa ngọt, vừa béo, vừa thơm, vừa giòn. Một sự pha trộn kỳ lạ mà chỉ có nghệ nhân tài hoa về ẩm thực mới có thể nghĩ ra và chế biến được.

Tuy có nhân thịt nhưng do xử lý kỹ nên bánh có thể giữ được lâu từ nửa tháng đến một tháng mà không sợ bị ôi thiu. Ngày nay, những phong bánh in đã được bày bán nhiều nơi ở trong phố Hội An và rất được du khách ưa chuộng. Chúng đã góp phần tôn vinh truyền thống ẩm thực vốn có của cư dân nơi đây.

14. Bánh Ú Tro 

Hằng năm, vào ngày mồng năm tháng năm âm lịch, bà con Hội An và các vùng lân cận như: Điện bàn, Đà nẳng đổ về phố Hội An để mua bằng được vài trăm bánh ú tro về cúng ông bà tổ tiên và làm quà cho người thân, nhân dịp lể tết mông năm lại đến. Dân gian truyền rằng: vào thời chiến quốc tại nước Sở có một người tên là Khuất Nguyên vừa là một thầy thuốc vừa là một trung thần nhưng không đuợc vua trọng dụng.
Ông trầm mình tại sông Mạch La thuộc nước Sở vào ngày 5 tháng 5 âm lịch. Từ đó về sau, đến ngày ấy, nhân dân mua bánh ú tro để cúng ông, vì bánh ú tro có 4 góc nên thả xuống nước cá không ăn được.

Phong tục đó dần được người Việt tiếp thu và chuyển hoá thành tết mồng năm với tục hái lá thuốc và giết sâu bọ khá đặc trưng. Dường như người ta không còn nhớ mình cúng ai vào ngày nầy nhưng bánh ú tro, thịt vịt, hoa quả thì phải sắm đủ. Bánh muốn ngon phải gói bằng lá kè tại núi ngoài Huế. Nếp phải lựa kĩ không cho lộn gạo tẻ, đải sạch ngâm với nước tro mè (Cây mè đốt lấy tro, hoà vào nước, lọc qua hồ cát ) để qua đêm. Nước tro pha một ít phèn sa để bánh không bở.

Nhờ nước tro mè mà hạt nếp nhuyễn thành bột. Chỉ có một muổng cafe nếp mà những chiếc bánh được sắp xếp vuông vức. Do vậy ông bà ta thường dạy: ”học ăn, học nói, học gói, hoc mở ”. Ngoài ra để có những chiếc bánh không sống, qua kinh nghiệm cho biết, khi nước sôi thì thắp một cây hương, đến khi hương tàn thì chín bánh. Chiếc bánh vừa mềm, vừa dẻo lại vừa dòn sựt sựt, nhưng ăn nó phải có đường cát thì mới hợp gu.

15. Cơm gà phố Hội 

Đến Hội An, du khách đừng bỏ lỡ dịp thử qua món cơm gà với cách chế biến và hương vị độc đáo riêng của người dân phố Hội. Vào những đêm phố cổ, ngang qua dãy phố, dưới những vòm mái ngói rêu phong cổ kính, dưới những ánh đèn lồng lung linh, quý khách không thể làm ngơ trước những con gà tơ luộc chín bày lên trên đĩa, trước mùi thơm hấp dẫn bay ra từ trong hàng quán cơm gà. Muốn làm cho cơm ngon cũng phải biết chọn gà và phải có kinh nghiệm. Phải chọn loại gà tơ thịt mới mềm, mới thơm vì ” vịt già, gà tơ “.

Nếu không chọn được gà tơ thì phải xem ” tướng mạo ” mà chọn theo kinh nghiệm ” cựa dài thì rắn, cựa ngắn thì mềm “. Đến thao tát vặt lông cắt cổ cũng phải làm sao cho nhanh, cho sạch và đúng bài bản ” sớm chí tai, mai chí hầu “. Sau hồi trò chuyện, cơm đã làm xong. Nhìn đĩa cơm nóng đang bốc khói và toả mùi thơm nức, bên trên rải những miếng thịt gà tơ lụt chín, xé nhỏ, thực khách đã thấy thèm ăn. Ăn kèm với cơm là những lát hành tây trắng nõn, tương ớt đỏ tươi, muối tiêu lấm chấm và nước mạ trộn nhiều tim gan cật gà, vô cùng hấp dẫn.

Ăn món thịt gà tất nhiên không thể thiếu dĩa rau răm vì thiếu nó như thiếu đi một phần thú vị ” gà cồ ăn quẩn cối xay, rau răm muối ớt xé phay gà cồ “. Đêm đêm, những gánh cơm gà vẫn được bày bán trên một số ngã phố, góp phần làm phong phú chủng loại và tính độc đáo của món ăn Hội an.

16. Hến Cẩm Nam 

Hến Cẩm Nam từ lâu đã thành một món quen thuộc, có mặt hàng ngày trong các bửa ăn của những gia đình bình dân cũng như khá giả ở phố Hội an. Sau những giờ lao động vất vả, cả nhà ngồi quây quần bên rổ khoai lang, vị dai dai, ngọt ngọt của hến với vị cay cay của ớt, của hành làm không khí gia đình ấm cúng hẳn lên. Hến không những nấu với bầu, ăn với khoai lang mà hến kia cộng với rau muống thái nhỏ thì ta được một tô canh hến tuyệt vời trong những ngày hề oi bức. Trước cái rét của mùa đông ước gì có được một tô cháo hến gạo lức sền sệt thơm phức trên mặt rải một ít cọng hành và tiêu thì thật chẳng có món nào bằng.

Ngoài ra món hến trộn còn là đặc sản trong các quán ăn, nhà hàng. Trông đĩa hến trộn thật hấp dẫn từ con hến bé tí đến cộng rau, cộng hành xanh xanh và mít non trắng xắt mỏng. Cái vị dai dai, ngọt ngọt của hến gặp vị thơm, béo của những tép hành hương giòn tan, mùi đậu phụng rang thơm phức, cay của rau húng, ớt hoà cùng những sớ mít chín mềm ngọt đã làm món hến trộn Cẩm Nam trở nên độc đáo. Hến là loại thức ăn mát, tuy ngọt ngon nhưng dể bị lạnh bụng vì vậy phải kèm rau răm, mít non để đề phòng bụng dạ. Sự tính toán mới chu đáo làm sao.

Ngày nay, nghề hến góp phần trong công cuộc phát triển kinh tế gia đình tại địa phương. Có dịp đến với phố cổ Hội an, bạn không những được thăm chùa, miếu mộ mà còn được tận hưởng, thưởng tức những món ăn dân dã, trong đó có hến và bạn sẽ nhớ mãi, thoả mãn và hài lòng cho một chuyến đi đầy thú vị và hấp dẫn.

17. Tương Ớt Hội An. 

Bất cứ một món ngon nào cũng không thể thiếu phần gia vị, mà tương ớt là một trong những gia vị không thể thiếu được trong những món ăn ngon. Tương ớt Hội An tuy chỉ là một loại tương cay thông thường nhưng hương vị, chất lượng khó có nới nào bì kịp. Nguyên liệu để làm tương ớt chủ yếu là ớt mua từ các vùng nông thôn đưa lên bán. Quả ớt để làm tương yêu cầu phải chín đỏ, tươi. Cách làm tương cũng không kém phần phức tạp. Ớt tươi đem luộc rồi xay nhuyễn trộn với cà chua vừa đủ, khử dầu, cho vào chảo đun sôi. Lại cho thêm các thứ mè rang, tỏi… trộn đều cho thấm, tiếp tục xào cho ráo nước để thành tương ớt.

Khi tương ớt đã nguội được cho vào lọ. Trên mặt lọ tương đổ một lớp dầu khử chín để giử được lâu và tránh mốc. Một lọ tương ớt đạt yêu cầu là phải có màu đỏ đẹp, có vị cay mà không gắt và mùi thơm dịu. Tương ớt Hội An không chỉ sản xuất để phục vụ cho các nhà hàng, khách sạn hay các quán ăn trong nội tỉnh mà còn được bán đi khắp nơi trên đất nước như TP Hồ chí Minh, Huế, Quảng Ngải..Tại Hội An trước đây có tiệm tương ớt Triều Phát rất nỗi tiếng. Hiện nay tương ớt được nhiều nhà sản xuất và bày bán, chất lượng tuy không bằng trước nhưng vẫn được nhiều người, nhiều địa phương ưa chuộng.

18. Bánh Đúc Đậu đỏ

Bánh đúc bằng gạo, xay giã còn mộc mạc thuần quê. Hình thức bên ngoài xấu xí “da dày như da bánh đúc” nhưng lòng lại đỏ au sắt son, thơm thảo. Chính vì thế mà muốn làm đúng loại bánh đúc, người ta phải chọn cho được thứ gạo mùa chính tông, càng lứt (lớp vỏ lụa đỏ vẫn còn) càng tốt. Gạo vo sạch, xay thành bột. Bột đã lấy trùng (độ cân bằng giữa nước và bột) đem hòa với tí nước vôi chín, đặt trên lửa giáo đều cho bột quánh đặc. Xong, người ta chia đều những phần bột đã được giáo ấy vào khuôn. Ngày trước, khuôn được chằm bằng lá chuối to gấp đôi chén bánh bèo và được gọi là ổ. Đem các ổ bánh hấp cách thủy cho chín. Nhìn mặt bánh, hễ da bánh sần sùi, màu bánh hồng tươi thì ngon.

Trước khi đem thưởng thức, người ta phết lên trên mặt ổ bánh một lớp dầu phụng đã khử nén, phi hành để vừa tạo thêm chất béo vừa làm chất kết dính nhân bánh. Nhân bánh là tôm xào khô, băm nhỏ đỏ hồng, đậu phụng rang vàng giã dập và một ít hành lá tươi xanh xắc nhỏ. Bánh đúc ở xứ Quảng được ăn với mắm cái giã ớt tỏi cay nồng, nặn thêm tí chanh tươi mới thấm thía ý vị.

Du lịch, GO! - Tổng hợp từ Danangexplorer, BansacVN, ảnh internet

Thứ Sáu, 8 tháng 7, 2011

Lên đỉnh Trường Sơn ăn mối đất

Người Cơ Tu gọi món ăn độc đáo này là cláp padieng. Mối đất ra nhiều nhất là sau những cơn mưa chiều vào tiết Tiểu mãn (tháng tư âm lịch) hàng năm. 

Cơn mưa vừa dứt vào tầm chạng vạng. Lúc này không khí mát mẻ hẳn lên, cũng là lúc hàng trăm đàn mối dày đặc từ tổ chui ra chấp chới đôi cánh mỏng, bay lấp lánh, chập chờn trong bóng hoàng hôn. Chúng rủ nhau quần tụ vào nơi có nhiều ánh sáng. Lúc này, mọi người đã chuẩn bị sẵn sàng để có món khoái khẩu...

Mối đất được rang tới khi có mùi thơm rồi sảy bỏcánh, chỉ còn lại phần thân vàng ươm, béo ngậy. Người Cơ Tu gọi món ăn độc đáo này là cláp padieng. Đây là món ăn đặc sản giàu đạm, chất khoáng, mùi vị lại thơm ngon, đặc biệt hấp dẫn không chỉ với  đồng bào Cơ Tu mà còn hấp dẫn với rất nhiều bà con vùng xuôi...

Thơm “điếc mũi”!

Cụ Nguyễn Văn Dẽ (87 tuổi) -  một “chuyên gia” bắt mối đất ở tổ 1, thôn Tống Coói (xã Ba, Đông Giang, Quảng Nam) cho biết: “Mùa bắt mối diễn ra từ khoảng tháng ba đến tháng tám (âm lịch) hằng năm. Mối đất có thể rang, nhâm nhi với vài chén rượu tà vạt. Hoặc rang xong, dầm nước mắm ăn với cơm. Nếu không, có thể  nấu cháo... mối. Món nào cũng đều thơm ngon đến nhức mũi! Thành thử người Cơ Tu có câu ca dí dỏm: “Con ơi bắt mối đem rang/Nhanh tay không kẻo mối sang nhà người...”- Vào mùa, có đêm nhà tôi bắt đến 5 cân mối. Thích thì rang ăn liền. Nếu nhiều có thể đảo qua cùng chút muối, để trong ống lồ ô, gác trên giàn bếp ăn dần...”.

Mối đất ra nhiều nhất là sau những cơn mưa chiều vào tiết Tiểu mãn (tháng tư âm lịch) hàng năm. Cơn mưa vừa dứt vào tầm chạng vạng. Lúc này không khí mát mẻ hẳn lên, cũng là lúc hàng đàn mối dày đặc từ tổ chui ra chấp chới đôi cánh mỏng, bay lấp lánh, chập chờn trong bóng hoàng hôn. Chúng rủ nhau quần tụ vào nơi có nhiều ánh sáng. Lúc này, mọi người đã chuẩn bị sẵn sàng để có món khoái khẩu!!!

Bí quyết “gọi” mối về

Già Dẽ cho biết: “Nếu không có đèn điện, khi phát hiện có mối đang bay ra, chúng tôi thắp một cây đèn dầu, hoặc đèn cầy, cắm giữa cái thau lớn đặt ở nơi thuận tiện ngoài sân. Trong thau đổ nước gần ngập cây đèn. Mối thấy ánh sáng, rủ nhau bay đến, sà xuống, gặp nước, cánh bị ướt không bay lên được, nằm lại trong thau. Thỉnh thoảng, mình lấy tay khuấy nước trong thau. Nếu nhiều rồi thì vớt, bỏ ra mủng... Nếu vùng nào có điện, nhất là các ngọn điện ở trước sân, khi phát hiện có mối, lập tức tắt tất cả điện trong nhà để mối tập trung vào một chỗ. Lúc bấy giờ tha hồ mà bắt.

Công đoạn bắt mối chỉ diễn ra khoảng nửa giờ là kết thúc. Con mối vừa bị bắt còn nguyên cánh mỏng, thân dài khoảng 1cm, viền đen quanh thân màu vàng nâu... Người ta sẽ dùng nước sạch, nhẹ nhàng rửa nhiều lần cho sạch rồi vớt ra rá nhựa, để ráo nước...

Già làng Đinh Văn Bớt (65 tuổi), ở thôn Tà Lâu (xã Ba, Đông Giang) cho biết: “Những người Cơ Tu có kinh nghiệm, trước cơn mưa giông, chỉ cần nhìn ổ mối mà xác định chính xác ụ nào mối ra trước, ụ nào mối ra sau, lượng mối bay nhiều hay ít? Người ta sẽ lấy lá chuối quây lên theo hình nón. Trên đó được giăng bao nilon màu trắng. Mối bay lên gặp nilon rớt xuống lá chuối đã hứng sẵn. Do lá trơn và bị ướt cánh nên mối không bò và bay lên được nữa. Thế là chỉ việc mang mủng ra hớt mang về. Thông thường mỗi người “quản lý” khoảng 10 lỗ là tha hồ thu hoạch.

Món “độc chiêu” từ mối 

Mối rang là món ăn ngon miệng, hấp dẫn đối với đồng bào Cơ Tu và cả bà con người Kinh.

Khi chế biến, ta đặt chảo lên bếp, chờ nóng đều, bỏ vài bát mối đã rửa sạch vào. Dùng đũa khuấy đều, mối bốc hơi, khô dần. Đến khi từ chảo tỏa ra một mùi thơm quyến rũ, ngào ngạt giống như mùi châu chấu rang; Những tiếng nổ lẹt đẹt, báo hiệu mối đã chín. Lúc này, đổ ra mẹt, lấy ngón tay đảo nhẹ và sảy, hay bật cái quạt điện cho cánh mối bay đi, chỉ còn lại thân mối vàng ươm béo ngậy, nhìn đã nhỏ nước miếng.

Người Cơ Tu ngoài rang mối để “ăn chơi”còn giã nát nén lại thành... bánh để ăn dần. Khi rang mối, bà con cho thêm vào ít muối rồi bỏ  trong ống để dành, ăn lai rai vào những ngày mưa.

Không gì thú vị bằng một ngày mưa trên đỉnh Trường Sơn bạt ngàn gió, được ngồi trong căn nhà của người Cơ Tu; Bên cạnh là bình rượu tà vạt và thưởng thức hương vị thơm lừng, beo béo, ngọt bùi… của món mối rang. Chủ - khách rôm rả trò chuyện đến khi bà chủ lại mang thêm bát cháo mối đặc quánh, thơm lừng... Gương mặt mọi người hồng lên, lấp lánh bên bếp lửa. Khách đường xa, đã một lần thưởng thức cái hương vị thơm ngon, độc đáo của món mối đất rang ở Đông Giang, chắc chắn không thể nào quên!!!

Du lịch, GO! - Theo báo Gia Đình