Hiển thị các bài đăng có nhãn Di tích lịch sử. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Di tích lịch sử. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 29 tháng 7, 2011

Dinh thự của những ông vua bản Mường

Những cái tên Vương Chí Sình, Hoàng A Tưởng, Đèo Văn Long... "vua" bản mường một thời lừng lẫy dưới sự bảo hộ của thực dân Pháp. Sau Cách mạng Tháng 8/1945, những ông "vua" này không còn nhưng những dinh thự của họ vẫn còn đó.
.
Dinh thự nhà họ Vương

Ai đã từng đặt chân lên Đồng Văn (Hà Giang), nơi cực Bắc của Tổ quốc đều muốn ghé thăm dinh thự nhà họ Vương nằm dưới thung lũng Sà Phìn. Dinh thự được xây dựng từ thời Vương Chính Đức, một quan Bang tá do chính quyền bảo hộ dựng lên để cai quản vùng đất biên ải hiểm yếu bậc nhất Việt Nam.

Nằm trên con đường buôn bán thuốc phiện từ vùng Tây Nam Trung Quốc tới Miến Điện vào Việt Nam và các nước Đông Nam Á, Đồng Văn có độ cao trung bình trên một ngàn mét so với mặt nước biển, lại là vùng núi đá rất phù hợp với việc trồng cây thuốc phiện...

< Cửa vào tiền dinh.

Vương Chính Đức trở thành một mắt xích quan trọng trong đường dây buôn bán nha phiến, ông bỗng chốc trở nên giàu có và đầy quyền uy, tự phong là “vua” xứ Mèo Hà Giang.

Dinh thự nhà họ Vương được xây dựng cuối thế kỷ 19 do hơn 300 thợ dân tộc Hồi (Trung Quốc) xây dựng trên một gò đất hình mai rùa nằm giữa thung lũng Sà Phìn, do thầy địa lý Trung Quốc chọn. Nhà tựa vào lưng núi, mặt quay ra phía thung lũng xoải dài, phù hợp với thuyết phong thuỷ của người Tàu.


< Toàn cảnh nhà vua Mèo.

Kiến trúc của khu nhà mang đậm phong cách kiến trúc phong kiến Trung Hoa, bao gồm: Tiền đinh, trung đinh và hậu đinh. Nối ba lớp nhà hai tầng bằng gỗ, tường đất nện (kiến trúc của dân tộc Mông Dao, Pa Dí, Hà Nhì… vùng núi cao) là khoảng sân lát đá. Nơi ở của “vua” là ngôi nhà phía trong cùng tường xây bằng đá, phía sau có một đường hầm thoát hiểm. Các ngôi nhà đều lợp ngói âm dương, một số hoạ tiết trang trí là những bông hoa thuốc phiện, nhờ những bông hoa ấy mà Vương Chính Đức mới trở thành “vua Mèo” nơi vùng biên viễn. Xung quanh dinh thự là một lớp tường đá dày 0,8m có nhiều lỗ châu mai và chòi canh gác.

< Dinh thự nhà họ Vương trước khi trùng tu.

Về mặt quân sự, đây vừa là dinh thự nhưng cũng là pháo đài kiên cố khi có biến. Bởi khu dinh thự nằm dưới thung lũng mà xung quanh là núi đá, nếu những kẻ bên ngoài muốn tấn công, trước tiên phải vượt qua dãy núi đá tai mèo hiểm trở, từ dưới thung lũng lại dễ dàng quan sát được, nên mọi động tĩnh từ phía bên ngoài đều có thể phát hiện ra ngay. Do đó, mọi biến động bên ngoài, quân lính của nhà họ Vương kịp thời nắm bắt để báo cho ông chủ ứng phó.

< Mặt tiền dinh giữa.

Khi Vương Chính Đức mất trao lại quyền cho người con thứ tên là Vương Chí Sình. Cách mạng Tháng 8/1945 bùng nổ, quân của Vương Chí Sình đã phối hợp với quân của Mặt trận Việt Minh đánh đuổi quân Pháp chạy khỏi Hà Giang. Sau ngày Cách mạng thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh mời Vương Chí Sình tham gia Quốc hội khoá I và kết nghĩa làm anh em, đổi tên cho ông là Vương Chí Thành, tặng ông thanh bảo kiếm, ngoài vỏ khắc 8 chữ: "Tận trung báo quốc/ Bất thụ nô lệ".

Dinh thự Hoàng A Tưởng

Dinh thự Hoàng A Tưởng nằm ở thị trấn Bắc Hà, tỉnh Lào Cai, trên đường lên Si Ma Cai. Hoàng A Tưởng là người Tày nhưng cai trị ở địa phương có trên 80% dân số là dân tộc Mông, nên được mệnh danh là “vua Mèo”. Hoàng A Tưởng là con Hoàng Yến Chao - Thổ ty vùng cao nguyên Bắc Hà. Trước ngày Lào Cai được giải phóng (11/1950), Bắc Hà không chỉ là con đường tơ lụa nối với Vân Nam qua vùng Trung Á, mà Bắc Hà còn là nơi trung chuyển thuốc phiện từ Trung Á qua Đông Dương xuống khu vực Nam Á và ngược lại. Cao nguyên Bắc Hà trước đây nổi tiếng là vùng cây thuốc phiện, thuế bổ xuống đầu dân bằng thuốc phiện. Sử sách còn ghi, mỗi năm Bắc Hà thu thuế từ 1,8-2,25 tấn thuốc phiện, riêng Hoàng A Tưởng mỗi năm thu không của dân 500 kg thuốc phiện, ép dân bán rẻ 500 kg, đứng đầu đường dây buôn bán thuốc phiện và hàng hoá xuyên Á qua ngả Bắc Hà.

Dinh thự Hoàng A Tưởng quay hướng đông nam, lưng tựa vào núi Cô Tiên, đúng theo thuyết phong thuỷ của người Tàu “Tựa sơn đạp thuỷ”, thế rất vững chãi. Kiến trúc của khu dinh thự kết hợp giữa lối kiến trúc cổ của Pháp thế kỷ 17-18 với kiến trúc nhà sàn của người Tày, rất hài hoà nổi lên giữa vùng núi non hùng vĩ. Cửa nhà vòm cuốn, đắp nổi nhiều hoạ tiết dây lá nho, tường gạch nung, móng đá, mái lợp ngói âm dương. Cầu thang đi phía sau nhà, dưới cầu thang là bể hứng nước mưa, trong các phòng đều có lò sưởi.

Chính giữa là ngôi nhà lớn hai tầng, sàn gỗ, gian chính diện là phòng làm việc, tiếp khách, kế bên là nơi ở của vợ chồng, con cái Hoàng A Tưởng, hai dãy nhà ngang tả-hữu cũng là nhà hai tầng nhưng thấp hơn, đó là nơi ở của các gia nô, binh lính và người giúp việc. Hai ngôi nhà ngang được nối với ngôi nhà chính bằng một hành lang hẹp, các cửa đều quay ra cái sân rộng, nơi Hoàng A Tưởng thường tổ chức múa xoè khi tiếp các quan Pháp, hoặc những nhà buôn và khi lễ Tết.

Xung quanh dinh thự là tường đá bao quanh có lỗ châu mai, mặt tiền là cầu thang hình vòng cung đi lên từ hai phía, trước khi bước vào dinh thự, khách phải dừng chân ở phòng chờ có lính canh gác trước một cánh cửa gỗ nặng trịch dày gần một gang tay.

Trên tường mặt tiền đắt nổi những khẩu pháo, nhằm phô trương sức mạnh và thị uy những ai khi bước chân vào dinh thự. Dinh thự của Hoàng A Tưởng xây dựng trong vòng 8 năm trời (1914-1921), vật liệu bao gồm: Đá, vôi, cát, mật mía khai thác tại địa phương còn xi măng, sắt thép thì được chở bằng máy bay và ngựa thồ từ Hà Nội và Lào Cai lên.

Sau chiến tranh biên giới tháng 2/1979, tôi đã nhiều lần ngủ trong khu dinh thự này, những cây hoa mộc sau nhà thơm thoảng, nhiều đêm thức giấc nhìn ra ngoài trời sương đêm bảng lảng, tôi có cảm giác những oan hồn mà cha con Hoàng A Tưởng giết hại vẫn lẩn khuất đâu đây.

Dinh thự Đèo Văn Long

Dinh thự Đèo Văn Long nằm ở ngã tư nơi gặp nhau của con sông Đà, sông Nậm Na và suối Nậm Lay. Trước kia thuộc phường Lê Lợi, thị xã Lai Châu (cũ) sau khi tách Lai Châu thành hai tỉnh Lai Châu và Điện Biên, dinh thự Đèo Văn Long thuộc xã Lê Lợi, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu.

Theo các tài liệu, Đèo Văn Long là con của Đèo Văn Trị, cai quản mười hai xứ Thái (Sipsong Chuthai). Cuối thế kỷ 19, Đèo Văn Trị hưởng ứng Hịch Cần Vương, lãnh đạo sắc tộc Thái và một số dân tộc khác vùng Lai Châu nổi dậy chống Pháp. Sau bị dụ dỗ, Đèo Văn Trị đầu hàng Pháp, mở đường cho chúng tiến vào Mường Thanh, được Pháp khôi phục quyền cai trị vùng đất Sipsong Chuthai bên bờ sông Đà, cho phép cha truyền con nối.

Được sự hỗ trợ của Pháp, Đèo Văn Long lên nắm quyền cai trị thay cha, ra sức vơ vét của cải, buôn bán thuốc phiện, lâm thổ sản, hàng hoá, tổ chức những đoàn thuyền lớn lấy sông Đà làm tuyến giao thông chính giao thương với vùng đồng bằng sông Hồng, trở thành người giàu có nhất vùng.

Dinh thự Đèo Văn Long được xây dựng tại nơi 3 con sông gặp nhau, một vị trí hiểm yếu, sau lưng là núi cao trước mặt là sông rộng, ở vị trí yết hầu đó có thể khống chế được con đường lên Phong Thổ, Sa Pa, Mường Tè và xuôi về Hoà Bình cũng như qua ngả Điện Biên sang Lào. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Đèo Văn Long mang vợ con chạy sang Pháp. Dinh thự của Đèo Văn Long không có người ở, lâu ngày đã bị đổ nát, trở thành phế tích.

< Một phần dinh thự Đèo Văn Long ngày nay được làm trường học.

Những gì còn sót lại cho thấy kiến trúc của khu nhà là kết hợp giữa kiến trúc nhà sàn của người Thái với kiến trúc của người Pháp. Khu nhà chính được xây hai tầng bằng gạch đỏ, sàn gỗ, xung quanh ngôi nhà chính là những khu nhà nhỏ dành cho người ở và binh lính, xung quanh là tường bao xây bằng gạch và đá dày trên 40cm, có nhiều lỗ châu mai, cao trên 3m. Trước khu nhà có sân rộng để múa xoè khi tổ chức tiệc tùng. Mái lợp ngói tách ra từ những phiến đá, người dân gọi là đá giấy, lúc mới tách đá mềm có thể dùng dao cắt được, nhưng khi gặp nắng đá trở nên cứng như sành.

Trước đây, tỉnh Lai Châu có dự kiến trùng tu dinh thự Đèo Văn Long, nhưng khi triển khai công trình thuỷ điện Sơn La, thì toàn bộ khu dinh thự Đèo Văn Long sẽ bị ngập dưới lòng hồ. Sau tháng 10/2010, khi nước hồ Sơn La dâng thì toàn bộ khu dinh thự của ông “vua Thái” đều nằm dưới thủy cung.

Du lịch, GO! - Theo Nông Nghiệp VN, internet

Thứ Năm, 14 tháng 7, 2011

Du lịch ở vùng "phi quân sự"

DMZ là cụm từ quen thuộc với những ai đã từng một thời sống trong mưa bom, bão đạn. Trong hành trình du lịch dài ngày ở Huế, chúng tôi đã dành thời gian để đến Quảng Trị. Bạn sẽ hỏi vùng đất đó có gì hấp dẫn ngoài cát và nắng cháy? Tôi sẽ nói có DMZ.

DMZ (Demilitarized Zone) là một hình thức du lịch vùng phi quân sự và Quảng Trị là một “toạ độ lửa” của chiến trường xưa, nơi có “vĩ tuyến 17 ngày và đêm”.

Nghĩa trang Trường Sơn là nơi chúng tôi ưu tiên đến đầu tiên. Nghĩa trang rợp bóng những rừng cọ, rừng keo và rừng cao su đang chuẩn bị mùa lá mới.
.
Chưa lần nào tôi có cảm giác thành kính xen lẫn sự hân hoan khi bước chân vào một khu tưởng niệm như thế. Những phần mộ nhỏ gọn đều đặn được phân khu theo từng tỉnh thành chạy dọc con đường sạch sẽ rợp bóng cây.

Sự thỏa nguyện càng được nhẹ bẫng khi chúng tôi bắt gặp một khoảng không gian bao la xanh ngắt của biển Cửa Tùng.

Cửa Tùng là cửa biển giữa hai huyện Gio Linh và Vĩnh Linh được đổ ra biển từ sông Bến Hải cách cầu Hiền Lương khoảng 10 km về phía đông bắc.

Không hổ với danh hiệu nữ hoàng của các bãi tắm, biển nơi đây đặc biệt yên ả so với sóng to gió lớn thường thấy ở các bãi biển miền Trung.
Sau khi ào xuống vũng vẫy với sóng với cát mát rượi, chúng tôi lên lán của chị Thảo đu đưa võng hóng gió và tận hưởng triệt để hương vị của biển qua các món ăn. Tôm xóc tỏi thực sự là món ăn vô cùng hấp dẫn. Tôm to bằng ba ngón tay, thịt chắc nịch thơm ngọt mà giá cả rất hợp lý.
Cháo cá biển thơm vị mắm, thịt cá rắn và tươi đậm đà, gạo nở bung sóng sánh nước hồ.

Một chút hạt tiêu và hành tươi là có thể vị cháo đã ngấm vào đến từng ngóc ngách sâu nhất của mọi giác quan. Đó là lí do tôi hiểu sao đôi khi mình có khả năng ăn nhiều đến như vậy.

Điểm dừng chân thú vị càng làm tăng sự hào hứng khi chúng tôi tiếp tục thăm địa đạo Vịnh Mốc. Địa đạo được xây dựng từ năm 1965, hoàn thành năm 1966 với đầy đủ các công trình cộng đồng cơ bản và những "căn hộ" đủ cho 3 – 4 người.

Lúc đông nhất đã có gần 1.200 người sống, thời gian tồn tại trong gần 2.000 ngày đêm đủ thấy sự kiên cường của người dân nơi đây trong cuộc kháng chiến trường kỳ.
Sự ngạc nhiên nhường chỗ cho sự thán phục không chỉ công trình mà còn về cuộc sống sinh hoạt của con người ở đây.
Có lẽ là chưa đủ đối với một vùng đất, nhưng là quá nhiều đối với một ngày của chúng tôi khi được chiêm ngưỡng cảnh đẹp và biết về con người nơi đây.


Nắng và gió ở vùng đất này chính là nguồn sáng tạo tự nhiên khắc nghiệt nhưng ẩn chứa sự kì diệu để làm thơ mộng những gì khô cằn, tôi luyện sự giới hạn của con người trở nên vô hạn. Bởi giá trị không chỉ nằm trong sự tồn tại mà còn nằm trong chính những gì nơi đây đã trải qua và để lại.

Du lịch, GO! - Theo Vietnamnet

Thứ Ba, 5 tháng 7, 2011

Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội

Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội có diện tích 20ha, bao gồm khu khảo cổ học 18 Hoàng Diệu và các di tích còn sót lại trong khu di tích Thành cổ Hà Nội như Bắc Môn, Đoan Môn, Hậu Lâu, rồng đá điện Kính Thiên, nhà con rồng, nhà D67 và cột cờ Hà Nội. Cụm di tích này được bao bọc bởi 4 con đường: phía bắc là đường Phan Đình Phùng, phía nam là đường Điện Biên Phủ, phía đông là đường Nguyễn Tri Phương và phía tây là đường Hoàng Diệu.

Lịch sử

Năm 1009, Lý Công Uẩn lên ngôi vua, sáng lập vương triều Lý. Tháng 7 mùa thu năm 1010, nhà vua công bố thiên đô chiếu (chiếu dời đô) để dời đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) về thành Đại La. Ngay sau khi dời đô, Lý Công Uẩn đã cho gấp rút xây dựng Kinh thành Thăng Long, đến đầu năm 1011 thì hoàn thành.

Khi mới xây dựng, Kinh thành Thăng Long được xây dựng theo mô hình tam trùng thành quách gồm: vòng ngoài cùng gọi là La thành hay Kinh thành, bao quanh toàn bộ kinh đô và men theo nước của 3 con sông: sông Hồng, sông Tô Lịch và sông Kim Ngưu. Kinh thành là nơi ở và sinh sống của dân cư.

Vòng thành thứ hai (ở giữa) là Hoàng thành, là khu triều chính, nơi ở và làm việc của các quan lại trong triều. Thành nhỏ nhất ở trong cùng là Tử Cấm thành, nơi chỉ dành cho vua, hoàng hậu và số ít cung tần mỹ nữ.

Nhà Trần sau khi lên ngôi đã tiếp quản Kinh thành Thăng Long rồi tiếp tục tu bổ, xây dựng các công trình mới. Sang đến đời nhà Lê sơ, Hoàng thành cũng như Kinh thành được xây đắp, mở rộng thêm ra. Trong thời gian từ năm 1516 đến năm 1788 thời nhà Mạc và Lê trung hưng, Kinh thành Thăng Long bị tàn phá nhiều lần.


Đầu năm 1789, vua Quang Trung dời đô về Phú Xuân, Thăng Long chỉ còn là Bắc thành. Thời Nguyễn, những gì còn sót lại của Hoàng thành Thăng Long lần lượt bị các đời vua chuyển vào Phú Xuân phục vụ cho việc xây dựng kinh thành mới. Chỉ duy có điện Kính Thiên và Hậu Lâu được giữ lại làm hành cung cho các vua Nguyễn mỗi khi ngự giá Bắc thành. Năm 1805, vua Gia Long cho phá bỏ tường của Hoàng thành cũ và cho xây dựng Thành Hà Nội theo kiểu Vauban của Pháp với quy mô nhỏ hơn nhiều.

Năm 1831, trong cuộc cải cách hành chính lớn, vua Minh Mạng đã cho đổi tên Thăng Long thành tỉnh Hà Nội. Khi chiếm xong toàn Đông Dương, người Pháp chọn Hà Nội là thủ đô của liên bang Đông Dương thuộc Pháp và Thành Hà Nội bị phá đi để lấy đất làm công sở, trại lính cho người Pháp. Từ năm 1954, khi bộ đội ta tiếp quản giải phóng thủ đô thì khu vực Thành Hà Nội trở thành trụ sở của Bộ quốc phòng. Như vậy giá trị đầu tiên của khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội thể hiện ở chỗ nó gần như là một "bộ lịch sử sống" chảy suốt theo cả chiều dài lịch sử hơn 10 thế kỷ của Thăng Long- Hà Nội, kể từ thành Đại La thời tiền Thăng Long đến thời đại ngày nay.

Giá trị khảo cổ

Trong lịch sử, Hoàng thành Thăng Long trải qua khá nhiều thay đổi, nhưng trung tâm của Hoàng thành, đặc biệt là Tử Cấm Thành thì gần như không thay đổi. Chỉ có kiến trúc bên trong là đã qua nhiều lần xây dựng, tu sửa. Chính đặc điểm này giải thích tại sao trên khu khảo cổ 18 Hoàng Diệu, các lớp di tích kiến trúc và di vật nằm chồng lên nhau qua các thời kỳ lịch sử.

Các di tích đó có mối quan hệ và sự liên kết lẫn nhau, tạo thành một tổng thể liên hoàn rất phức tạp nhưng phong phú và hấp dẫn, phản ánh rõ mối quan hệ về qui hoạch đô thị và không gian kiến trúc, cũng như sự tiếp nối giữa các triều đại trong lịch sử xây dựng kinh đô Thăng Long. Đó chính là giá trị nổi bật và độc đáo của khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long- Hà Nội. Tại đây, các nhà khảo cổ học còn khai quật được một số lượng lớn đồ gốm sứ là những vật dụng dùng hàng ngày trong hoàng cung qua nhiều thời kỳ.

Những khám phá này đã thực sự mở ra một cánh cửa mới cho việc nghiên cứu về gốm Thăng Long và gốm dùng trong hoàng cung Thăng Long qua các triều đại, là minh chứng cụ thể về trình độ phát triển cao của kinh tế và văn hoá. Ngoài ra, nhiều tiền đồng, đồ gốm sứ của Trung Quốc, Nhật Bản, Tây Á... được tìm thấy ở đây là bằng chứng cho thấy Thăng Long là trung tâm giao lưu văn hoá với các nước trong khu vực và tiếp nhận những giá trị tinh hoa của nhân loại.

Vào lúc 20h30 ngày 31/7/2010 tại thủ đô Brasilia của Braxin, Ủy ban di sản thế giới của UNESCO đã thông qua Nghị quyết công nhận khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội là di sản văn hóa thế giới dựa trên 3 tiêu chí nổi bật: chiều dài lịch sử, văn hóa; tính liên tục của tài sản với tư cách là một trung tâm quyền lực và sự đa dạng, phong phú của các tầng di tích, di vật. Tại lễ khai mạc đại lễ kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội vào ngày 1/10/2010, bà Irina Bokova - tổng giám đốc UNESCO đã trao bằng công nhận khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long – Hà Nội là Di sản văn hóa thế giới cho lãnh đạo thành phố Hà Nội.

ĐIỂM THAM QUAN TIÊU BIỂU

Khu khảo cổ 18 Hoàng Diệu

Di tích này bao gồm tầng dưới cùng là một phần bên phía đông của thành Đại La dưới thời Cao Biền, nhà Đường, tầng trên là cung điện nhà Lý và nhà Trần, tiếp theo là một phần trung tâm của đông cung nhà Lê và trên cùng là một phần của trung tâm tòa thành tỉnh Hà Nội thế kỷ 19.

Cột cờ Hà Nội

Cột cờ Hà Nội là di tích được xây dựng năm 1812 dưới triều Gia Long. Cột cờ cao 60 m, gồm có chân đế, thân cột và vọng canh. Chân đế hình vuông chiếm một diện tích là 2007 m² và gồm 3 cấp thóp dần lên. Mỗi cấp đều có tường hoa với hoa văn bao quanh. Từ mặt đất lên tới chân cấp thứ 2 phải leo 18 bậc tại mặt phía Đông và mặt phía Tây. Muốn từ cấp 2 lên cấp 3 cũng phải leo 18 bậc ở hai cửa hướng Đông và Tây. Còn cấp thứ 3 có 4 cửa Đông, Tây, Nam, Bắc (với các tên "Nghênh húc" (Đón ánh nắng ban mai), "Hồi quang" (ánh nắng phản chiếu), "Hướng Minh" (hướng về ánh sáng)…) và từ cạnh dưới lên tới cạnh trên phải qua tới 14 bậc cầu thang.

Đoan Môn

Đoan Môn là cửa vòm cuốn dẫn vào điện Kính Thiên. Đoan Môn gồm năm cổng xây bằng đá, phía ngoài là cửa Tam Môn khoảng 1812 - 1814, triều Nguyễn Gia Long phá, xây Cột Cờ (nay vẫn còn sừng sững). Năm 2002, giới khảo cổ học Việt Nam được phép đào phía trong Đoan Môn đã tìm thấy “lối xưa xe ngựa” thuộc thời Trần, dùng lại nhiều gạch Lý. Nếu khai quật tiếp, sẽ có thể thấy cả con đường từ Đoan Môn đến điện Kính Thiên ở phía Bắc và cửa Tây Nam thành Hà Nội.

Điện Kính Thiên

Điện Kính Thiên là di tích trung tâm, là hạt nhân chính trong tổng thể các địa danh lịch sử của thành cổ Hà Nội. Điện Kính Thiên chiếm vị trí trung tâm của khu di tích. Trước điện Kính Thiên là Đoan Môn rồi tới Cột Cờ Hà Nội, phía sau có Hậu Lâu, Cửa Bắc, hai phía đông và tây có tường bao và mở cửa nhỏ. Dấu tích điện Kính Thiên hiện nay chỉ còn là khu nền cũ.

Nhà D67

Từ Tổng hành dinh - Nhà D67 Khu A Bộ quốc phòng, Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương đã đưa ra những quyết định lịch sử đánh dấu những mốc son của cách mạng Việt Nam. Đó là: Tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968 Cuộc Tổng tiến công năm 1972 Đánh thắng hai cuộc chiến của Mỹ mà đỉnh cao là 12 ngày đêm cuối năm 1972. Tổng tiến công năm 1975, đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh.

Hậu Lâu

Lầu Tĩnh Bắc (Tĩnh Bắc lâu) là một toà lầu xây phía sau cụm kiến trúc điện Kính Thiên là hành cung của thành cổ Hà Nội. Tuy ở sau hành cung nhưng lại là phía bắc, xây với ý đồ phong thuỷ giữ yên bình phía bắc hành cung, nên mới có tên là Tĩnh Bắc lâu và còn có tên là Hậu lâu (lầu phía sau), hoặc là lầu Công chúa do cho rằng đây là nơi nghỉ ngơi của các cung nữ trong đoàn hộ tống vua Nguyễn ra ngự giá Bắc thành.


Du lịch, GO! - Theo Vietnamtourism, Bộ VHTTDL

Xem thêm tư liệu

Thứ Hai, 4 tháng 7, 2011

Tháp Chăm Yang Prong

Nói đến tháp Chăm (tháp Chàm), người ta thường mường tượng tới những ngọn tháp dựng trên những quả đồi cao in bóng giữa trời xanh của vùng duyên hải miền Trung quanh năm dạt dào sóng biển và lồng lộng nắng gió.

Nhưng ở Tây nguyên cũng lại có tháp Chăm, thu hút sự quan tâm, chú ý của nhiều người làm công tác nghiên cứu văn hóa, khảo cổ. Đó là tháp Yang Prông nằm tại một khu rừng thuộc tỉnh Đăk Lăk.

Tháp Chăm Yang Prong Là tháp Chàm duy nhất ở Tây Nguyên , thuộc huyện Ea Súp cách Buôn Ma Thuột 100 km. Từ thành phố Buôn Ma Thuột, theo tỉnh lộ 1, vượt qua chặng đường khoảng 100 km là tới trung tâm huyện Ea Súp. Lại đi tiếp ngót 20 km nữa. Gần đến cầu Ea Rôk, rẽ phải, qua vài xóm nhỏ nhà cửa thưa thớt, chúng tôi tới cánh rừng nơi có ngọn tháp Yang Prông huyền bí.

Xây dựng vào cuối thế kỷ XIII để thờ thần Siva dưới dạng Mukhalinga, cầu mong sự nảy nở của giống nòi,và ấm no hạnh phúc.Tháp Yang Prong là một khối kiến trúc bằng gạch nung đỏ trên nền cao bằng đá xanh uy nghi bên dòng Ea H'leo. Theo tiếng của cư dân bản địa Tây Nguyên thì Yang là “thần”, Prong là “chức vụ cao nhất”, vì vậy Yang Prong có nghĩa là “thần tối cao”, hay “thần đứng đầu trong các vị thần”, hoặc “thần lớn”.

Việc xây dựng ngôi tháp này, trước hết đó là nhu cầu của cộng đồng cư dân, phù hợp với tín ngưỡng và tâm linh của người Chăm. Tháp thờ thần Mukha Linga cầu mong cho người Chăm sinh sôi, nảy nở ở vùng đất Tây Nguyên.

Tháp Yang Prong là khối kiến trúc có đáy hình vuông, xây bằng gạch (giữa các lớp gạch không thấy mạch vữa liên kết), mỗi mặt tường rộng 5m, cao 9m (không kể chóp), tháp có một cửa ra vào duy nhất mở về hướng Đông có bề rộng 1,06m; diện tích lòng tháp hơn 5m² -  3 mặt tường còn lại, mỗi mặt có 3 cửa giả; chóp tháp được tạo thành bởi những lớp gạch xếp chồng lên nhau. Phía giữa mở rộng và đỉnh hình thon vút hình tháp bút, khác biệt với kiến trúc của các tháp Chàm khác ở Trung Bộ.
Nền tháp được làm bằng những phiến đá xanh mài nhẵn và xung quanh tháp rải rác có những khối đá xanh với các kích cỡ khác nhau.

Trước kia, trong tháp có thờ một bộ linga - yoni bằng đá để cầu mong thần phù trợ cho hằng năm mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, muôn loài sinh sôi nảy nở (linga và yoni là tượng vật biểu trưng cho sinh thực khí của nam và nữ, thể hiện tín ngưỡng phồn thực của người Chăm). Trải bao thăng trầm của lịch sử, bộ linga đó đã bị mất. Trong tháp giờ có một ban thờ chính và ba ban thờ nhỏ. Đây là những ban thờ do người đời sau lập nên.

Sau tháp, cách không đầy 50m là dòng suối Ea H’Leo. Nằm giữa khu rừng hoang sơ sau lưng là suối, đây quả là điểm khác thường trong việc chọn vị trí xây tháp của người Chăm bởi thường các tháp Chăm đều được xây dựng trên đồi cao thoáng đãng, không bị che khuất tầm nhìn.

Năm 1991, tháp Chàm Yang Prong, ở thôn 5, xã Ea Rốk, huyện Ea Súp (Đắc Lắc) được công nhận là Di tích kiến trúc cấp quốc gia. Hằng năm, vào những dịp lễ tết, bà con các dân tộc trong vùng vẫn đến đây hương khói, cúng tiến... cầu mong mọi sự an lành.

Ðến thăm tháp Yang Prong bạn sẽ cảm nhận một nét độc đáo, hiếm thấy. Hiện nay đây là điểm thu hút nhiều nhà nghiên cứu và khách du lịch khi đến với cao nguyên.

Du lịch, GO! - Tổng hợp từ Tuoitre, Daklakexpress

Hơn 10 năm trước, tỉnh Đắc Lắc đã thực hiện những đợt trùng tu, nhưng trước đó phần lớn hiện vật trong tháp đã bị mất, hoặc hư hại không thể phục chế. Tài liệu về tháp Yang Prong của những nhà nghiên cứu văn hóa khẳng định, năm 1906 hiện vật còn lại duy nhất trong tháp là 1 tượng thần Mukha Linga bằng đá, nhưng hiện nay tượng này cũng không còn.
.
Vào thời điểm trùng tu tháp, Bảo tàng tỉnh Đắc Lắc chỉ thu giữ được một đầu con chim hạc bằng đất nung. Những đợt trùng tu trước đây, để tránh cho tháp khỏi bị đổ, ở phần tiếp giáp thân và chóp tháp người ta đã phải sử dụng khung sắt để cố định. Xung quanh việc trùng tu còn có những ý kiến cho rằng, việc dùng gạch xây nhà để xây tháp là không phù hợp, cửa ra vào của tháp hiện làm không đúng nguyên bản…

Thứ Hai, 27 tháng 6, 2011

Thành nhà Hồ được công nhận là di sản Văn hóa Thế giới

Ngày 27/6, tại cuộc họp lần thứ 35 của Ủy ban Di sản Thế giới thuộc Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục Liên hợp quốc (UNESCO), di tích Thành nhà Hồ thuộc huyện Vĩnh Lộc,  tỉnh Thanh Hóa đã được công nhận là di sản Văn hóa Thế giới.

Ông Vương Văn Việt, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa, Trưởng đoàn tham dự cuộc họp lần thứ 35 Di sản Văn hóa (diễn ra từ ngày 19-29/6 tại Pari), cho biết đây là một trong 4 di sản văn hóa được đưa ra bình chọn trong phiên họp sáng 27/6 của hội nghị và là một trong 35 di tích được đề nghị trong danh sách xét bình chọn đợt này.

Với sự công nhận Di sản Thành Nhà Hồ là di sản Văn hóa Thế giới, cho đến thời điểm này Việt Nam đã có 7 di tích của được công nhận là di sản Văn hóa Thế giới, đó là phố Cổ Hội An, Cố đô Huế, Thánh địa Mỹ Sơn, Vịnh Hạ Long, khu hang động Phong Nha - Kẻ Bàng và Hoàng Thành Thăng Long - Hà Nội.

Du lịch, GO!: được công nhận là di sản Văn hóa Thế giới những gìn giữ, tôn tạo đúng cách xem ra sẽ khó hơn...

Cố đô Hoa Lư

Hơn 1.000 năm trước (năm 968), sau khi bình định 12 sứ quân, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi hoàng đế, chọn Hoa Lư (xã Trường Yên, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, cách Hà Nội gần 100km) làm kinh đô. Đến năm 1010, Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long. Hoa Lư trở thành cố đô từ đó.

Hoa Lư với những dãy núi đá hình vòng cung, những con sông bao quanh, như một chiến hào vững chắc, rất tiện lợi cho phòng thủ và chiến đấu. Hướng nam Hoa Lư được núi Ngự làm thành một bức tường kiên cố. Hướng tây được dải Trường Yên che chở. Hướng bắc có sông Hoàng Long. Một nhánh của sông Hoàng Long chảy theo sông Bội, đổ vào động Hoa Lư - căn cứ địa đầu tiên của Ðinh Bộ Lĩnh. Cùng với sông Lãng, sông Bội, sông Hoàng Long tạo thành một hệ thống thủy lộ chằng chịt nối liền với các vùng đất khác nhau. Vào thời ấy, giao thông đường thủy hết sức quan trọng đối với quốc phòng và đời sống kinh tế, văn hóa của dân tộc. Vì vậy, Hoa Lư được Đinh Tiên Hoàng chọn làm kinh đô là điều tất yếu...
.
Đi theo con đường làng râm mát bóng tre xanh, qua chiếc cầu đá cổ bắc qua con sông nhỏ và những đám lục bình tím ngắt, chúng tôi đến núi Yên Ngựa (Mã Yên sơn). Trên núi có lăng mộ Đinh Tiên Hoàng.

Vị vua đánh đâu thắng đấy (được tôn là Vạn Thắng vương) lại không chết nơi sa trường mà cùng con trai trưởng là Nam Việt vương Đinh Liễn bị giết khi say rượu, bởi một kẻ tiểu nhân tên là Đỗ Thích. Khi ấy ông mới 56 tuổi. Tiếc lắm thay!

Lăng Đinh Tiên Hoàng được xây bằng đá xám, nằm trên đỉnh núi, xung quanh cây cối um tùm, mát rượi. Thắp hương cho vị hoàng đế đầu tiên của Việt Nam, tôi không khỏi bùi ngùi: Đinh Bộ Lĩnh không chỉ hơn người về tài cầm quân thao lược mà còn rất giỏi trong lĩnh vực ngoại giao và xây dựng đất nước, kinh đô Hoa Lư lộng lẫy là một ví dụ. Nhưng cũng thật trớ trêu, chỉ vì sai lầm, bỏ con trưởng lập con thứ, ông đã đẩy đất nước vào loạn lạc, để cả cơ đồ nhà Đinh rơi vào tay người khác!

Trên núi Yên Ngựa, đá được bàn tay điêu khắc tài hoa của thiên nhiên tạo thành những hình thù kỳ lạ, đẹp và ngộ nghĩnh. Kia là một chú sư tử với mảng bờm dài phất phơ. Cạnh đó có ông già ngồi câu cá. Những bông hoa đá to nhỏ, những tháp tròn, tháp nhọn nhấp nhô... Phía dưới chân núi, cảnh quan thiên nhiên hiện ra như một tấm thảm tuyệt đẹp với màu xanh non của đồng lúa Yên Thành đang thì con gái. Con sông Bội ngoằn ngoèo, như dải lụa bạc óng ánh, quanh co uốn lượn. Những cánh cò chao liệng, những ngọn núi đá vôi nhấp nhô như những hòn non bộ và bầu trời xanh thẳm...

Cố đô Hoa Lư trước đây rộng khoảng 300 ha, nằm gọn trong những bức tường tự nhiên là những dãy núi. Khoảng trống giữa các sườn núi được xây kín bằng đất ken gạch, chân thành có gạch bó, đắp cao từ 8-10m. Kinh đô Hoa Lư bao gồm Thành Ngoại, Thành Nội và Thành Nam.

Trải qua mưa nắng hơn 10 thế kỷ, các di tích lịch sử ở cố đô Hoa Lư hầu như đã bị tàn phá, đổ nát. Hiện nay, chỉ còn lại đền vua Ðinh và đền vua Lê, được xây dựng vào thế kỷ XVII. Cách đây vài năm, người dân địa phương đã phát hiện di tích, một tòa cung điện cũ, với các chân cột bằng đá, nằm phía trái, cách đền vua Lê khoảng hơn 50m.

Đền thờ Đinh Tiên Hoàng được xây dựng từ thế kỷ thứ XVII, trên nền cung điện chính, cách chân núi Yên Ngựa khoảng vài trăm mét. Trải qua gần bốn thế kỷ, ngôi đền này vẫn giữ được vẻ uy nghi trầm mặc, lúc nào cũng nghi ngút khói hương. Các lối đi, trụ cổng, tường gạch đều in dấu vết của thời gian, với những lớp rêu phong cũ kỹ. Những khu vườn um tùm, xum xuê cây trái. Trước cửa đền chính đặt long sàng làm bằng đá nguyên khối, với đôi nghê đá hai bên rất sống động. Các hình trang trí, hoa lá, hình các con vật... được chạm khắc xung quanh long sàng đều rất tinh xảo.

Cách đền vua Ðinh 500 mét là đền vua Lê, thờ Lê Ðại Hành (tức Lê Hoàn). Đền vua Lê còn giữ được nhiều dấu tích kiến trúc cổ với những mảng chạm trổ công phu, điêu luyện. Tại đây, người ta đã tìm thấy di tích nền cung điện cũ cùng một số đồ gốm sứ cổ. Những hiện vật quý này được lưu giữ tại phòng bảo tàng của khu đền.

Sau khi thăm thú các di tích lịch sử, chúng tôi lang thang trong làng Yên Thành. Cố đô Hoa Lư nổi tiếng với những sản phẩm thêu tay khéo léo và tinh xảo. Chúng tôi chọn mua vài thứ về làm quà, gọi là kỷ niệm Hoa Lư, cố đô phồn thịnh của nước Đại Cồ Việt xưa.

Du lịch, GO! - Theo Vietnamtourisminfo

Về với Xẻo Quýt

Xẻo Quýt thuộc 2 xã Mỹ Hiệp và Mỹ Long, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

Đây là một căn cứ giữa lòng dân được bảo tồn nguyên trạng gồm các nhà hầm, công sự, hầm bí mật... giúp cho du khách biết được khung cảnh của cuộc sống khắc nghiệt thời chiến tranh. Cũng như rừng tràm ở Ðồng Tháp Mười, ở U Minh thượng, U Minh hạ đã gắn liền với lịch sử hào hùng mở nước, giữ nước, mang đến vẻ đẹp hấp dẫn cho các thế hệ hôm nay.

Trong quá khứ, Xẻo Quýt là vùng đầm lầy hoang vu cỏ dại, kênh rạch chằng chịt, lau sậy mịt mùng nên từ năm 1960-1975 đã được Tỉnh ủy Kiến Phong (nay là Đồng Tháp) chọn làm căn cứ chiến lược để lãnh đạo nhân dân kháng chiến. Giờ đây, Xẻo Quýt không chỉ là khu di tích lịch sử mà còn là một trong những điểm du lịch về nguồn độc đáo, để lại nhiều ấn tượng đẹp đẽ trong lòng du khách.

Đến đây bạn sẽ cảm nhận ngay một môi trường thiên nhiên tuyệt đẹp, gió mát trong lành nằm giữa vùng đất trũng với nhiều loại cây : tràm, gáo, sậy, trâm bầu, sen, súng…

Thăm Xẻo Quýt vào mùa khô, bạn sẽ len lỏi theo những con đường mòn ngoằn ngoèo dưới tán tràm mát rượi, nếu mỏi chân có thể mắc võng, ngả lưng ngắm nhìn cây lá. Mùa nước lên, trên chiếc xuồng ba lá, những cô du kích áo bà ba đen, khăn rằn, nón tai bèo đưa bạn luồn lách qua những con rạch nhỏ hoang sơ để vào những di tích nằm khuất trong rừng tràm mênh mông. Nơi nào nước sâu dùng chèo, nước nông thì chống sào, đôi lúc phải bám gốc cây đẩy xuồng tiến về phía trước. Tiếng chèo róc rách, cá quẫy và chim hót trên những hàng cây cao vút, xanh rì, bao phủ bởi lớp dây leo mềm mại đem lại những giây phút thư thái, bình yên cho khách tham quan.

Cảnh rừng như bức tranh trôi êm ả. Độc đáo và khác lạ ở đây là trên các thân tràm có loài cây dây leo bòng bong đeo bám dày đặc làm tăng thêm độ che phủ phía dưới. Tiếng chim ngân nga, tiếng cá quẫy nước, tiếng reo thích thú của du khách.
Môi trường sinh thái ở đây hết sức đa dạng với hơn 170 loài thực vật và 200 loài động vật hoang dã, trong đó có 13 loài được ghi vào Sách đỏ Việt Nam như trăn mốc, rắn hổ trâu, rái cá, rùa hộp…không ngoa khi người ta gọi Xẻo Quýt là Đồng Tháp Mười thu nhỏ.

Thú vị hơn, đến Xẻo Quýt bạn còn được sống lại khung cảnh của chiến khu xưa khi chứng kiến những công sự, hầm tránh bom, hầm bí mật… được phục chế nguyên vẹn như trước. Thời kì chống Mỹ, xung quanh đây có trên 10 đồn bót địch tạo thành một vòng tròn khép kín.

Đến với Xẻo Quýt anh hùng và kỳ thú, bạn sẽ được tận mắt quan sát thế trận của quân và dân ta, đó là những công sự chiến đấu cá nhân hình chữ L, công sự chiến đấu hình chữ Z được đào đắp bằng đất và tràm dùng để chiến đấu chống càn từ bãi đỗ trực thăng của địch…

Ngoài ra còn có những “bãi ngù — tử địa” có gài lựu đạn chống trực thăng và xe tăng bộ binh, nhà đón khách Tỉnh ủy, các nơi hội họp, làm việc và sinh hoạt của cán bộ, bộ đội trong suốt thời kỳ chiến đấu ác liệt.


Điều đặc biệt của khu căn cứ này là không có bê tông, không có tường vôi, gạch đá mà hầu hết các công trình đều được phục chế bằng gỗ, tre, tràm, đưng, lá dừa nước.. rất tài tình. Thật khó có thể hình dung được bằng cách nào xây dựng nên một căn cứ cách mạng vững chãi như thế giữa nơi đồng hoang ngập nước nếu không nhờ vào tài trí thao lược, lòng kiên trì dũng cảm, chịu đựng gian khổ của quân dân ta. Những trải nghiệm thú vị ở Xẻo Quýt sẽ đem đến những ấn tượng khó quên, đặc biệt nếu bạn là người ưa thích khám phá.

Du lịch, GO! - Tổng hợp từ Vnexplore, Vietnamtourisminfo...

Thứ Tư, 22 tháng 6, 2011

Địa đạo Vĩnh Mốc và biển Cửa Tùng

Làng địa đạo Vịnh Mốc là một toà lâu đài cổ trong lòng đất Quảng Trị. Vịnh Mốc (thuộc xã Vĩnh Thạch, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị) là một làng chài khiêm nhường có gần 100 nóc nhà nằm trên bờ biển phía đông nam thị trấn Hồ Xá chừng 13km, cách bãi tắm Cửa Tùng 7km về phía Bắc, cách đảo Cồn Cỏ anh hùng 30km.

Từ cầu Hiền Lương, chiếc cầu nối đôi bờ Vĩnh Linh và Gio Linh , đi khoảng 10 km về phía Đông Bắc, bạn sẽ thấy bãi biển Cửa Tùng xinh đẹp, nơi được mệnh danh là “Nữ hoàng của các bãi biển”.

Nằm phía Bắc cửa biển, Cửa Tùng là một bãi cát thon dài, phẳng mịn, nằm phơi mình dưới làn nước xanh trong vắt. Khác với các vùng bờ biển miền Trung khác, hay xảy ra những trận sóng to, gió lớn, bão tố thât thường, Cửa Tùng lại là nơi hiền hòa, kín gió, nơi neo đậu an toàn cho tàu thuyền đánh cá của ngư dân.

Đứng trên một đồi đất mà nhìn xuống Cửa Tùng, bạn có thể thỏa sức ngắm nhìn một quang cảnh tuyệt đẹp trải ra trước mắt. Một người Pháp đã từng mô tả Cửa Tùng như một bãi biển đẹp nhất trong ký ức của mình như sau:

"Cửa Tùng có cái sắc thái đặc biệt là nó được cấu tạo bởi một dải nguyên xanh tươi với độ cao 20 m dựng xiên thành bờ dốc trên một bãi biển có độ dốc thoai thoải và nhẹ nhàng...".
Nét đặc biệt, độc đáo làm nên sự khác biệt của Cửa Tùng còn chính là ở độ dốc thoai thoải của bãi tắm. Bạn đi từ bờ ra phía ngoài khơi, lao mình vào vòng tay của biển, và có thể đi mãi như vậy đến nữa cây số mà nước mới chỉ ngang ngực. Một sự thú vị tuyệt vời! Nơi đây còn có nhiều hải sản quý và ngon nổi tiếng như mực nang, tôm he, tôm hùm, cá chim, cá thu, cá nụ và cá đé với cách chế biến món ăn rất đặc biệt của dân địa phương.

Ban ngày, Cửa Tùng như một bức tranh sinh động thay đổi màu sắc từng giờ dưới ánh nắng mặt trời. Đêm đến là thời gian của gió trời và nhạc biển. Tiếng sóng ì ầm hòa cùng tiếng reo triền miên của rặng phi lao tấu lên bản nhạc bất tận của thiên nhiên Cửa Tùng.

Đến với Cửa Tùng, bạn còn có cơ hội thăm địa đạo Vĩnh Mốc, cầu Hiền Lương... những di tích lịch sử nổi tiếng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc, thăm ngôi nhà nghỉ mát của vua Duy Tân từ năm 1896, thăm quan nhà nghỉ của các cố đạo và tu sĩ, thăm làng biển cổ Cát Sơn, ….
phía Tây.

Từ cầu Hiền Lương, chiếc cầu nối đôi bờ Vĩnh Linh và Gio Linh , đi khoảng 10 km về phía Đông Bắc, bạn sẽ thấy bãi biển Cửa Tùng xinh đẹp, nơi được mệnh danh là “Nữ hoàng của các bãi biển”.
Nằm phía Bắc cửa biển, Cửa Tùng là một bãi cát thon dài, phẳng mịn, nằm phơi mình dưới làn nước xanh trong vắt. Khác với các vùng bờ biển miền Trung khác, hay xảy ra những trận sóng to, gió lớn, bão tố thât thường, Cửa Tùng lại là nơi hiền hòa, kín gió, nơi neo đậu an toàn cho tàu thuyền đánh cá của ngư dân.

Ôm lấy bãi biển Cửa Tùng là dải đồi đất đỏ bazan với những dải đá kéo dài ăn sâu ra biển cùng với bãi cát mịn màng. Hai bãi đá ngầm ăn sâu ra biển từ hai phía là Mũi Si và Mũi Lai tạo nên một cái vịnh nhỏ kín đáo và không có các dòng hải lưu cuốn xoáy. Đứng trên một đồi đất mà nhìn xuống Cửa Tùng, bạn có thể thỏa sức ngắm nhìn một quang cảnh tuyệt đẹp trải ra trước mắt. Một người Pháp đã từng mô tả Cửa Tùng như một bãi biển đẹp nhất trong ký ức của mình như sau: "Cửa Tùng có cái sắc thái đặc biệt là nó được cấu tạo bởi một dải nguyên xanh tươi với độ cao 20 m dựng xiên thành bờ dốc trên một bãi biển có độ dốc thoai thoải và nhẹ nhàng...".

Nét đặc biệt, độc đáo làm nên sự khác biệt của CHãy một lần đến với Cửa Tùng, đến với những con sóng nhẹ xô bờ, đến với cát trắng mịn luồn qua từng kẽ tay, đến với rặng phi lao rì rào trong gió, với tiếng sóng biển rì rào đêm ngày, với những người dân hồn hậu, thân thương và cực kì hiếu khách để cảm nhận hết vẻ đẹp của vùng đất và con người nơi đây, để thêm yêu từng mảnh đất quê hương, đất nước!

Cửa Tùng còn chính là ở độ dốc thoai thoải của bãi tắm. Bạn đi từ bờ ra phía ngoài khơi, lao mình vào vòng tay của biển, và có thể đi mãi như vậy đến nữa cây số mà nước mới chỉ ngang ngực. Một sự thú vị tuyệt vời! Nơi đây còn có nhiều hải sản quý và ngon nổi tiếng như mực nang, tôm he, tôm hùm, cá chim, cá thu, cá nụ và cá đé với cách chế biến món ăn rất đặc biệt của dân địa phương.
Ban ngày, Cửa Tùng như một bức tranh sinh động thay đổi màu sắc từng giờ dưới ánh nắng mặt trời. Đêm đến là thời gian của gió trời và nhạc biển. Tiếng sóng ì ầm hòa cùng tiếng reo triền miên của rặng phi lao tấu lên bản nhạc bất tận của thiên nhiên Cửa Tùng.

Đến với Cửa Tùng, bạn còn có cơ hội thăm địa đạo Vĩnh Mốc, cầu Hiền Lương... những di tích lịch sử nổi tiếng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc, thăm ngôi nhà nghỉ mát của vua Duy Tân từ năm 1896, thăm quan nhà nghỉ của các cố đạo và tu sĩ, thăm làng biển cổ Cát Sơn, ….

Vào năm 1965, trước sự đánh phá tàn khốc của không quân và pháo binh Mỹ vào Vĩnh Linh, cũng như hầu hết các làng quê khác, Vịnh Mốc đã bị huỷ diệt hoàn toàn. Trước quyết tâm bám trụ quê hương, chi viện chi miền Nam, việc tổ chức phòng tránh cho con người đặt ra hết sức cấp thiết. Với ý chí "một tấc không đi, một li không rời", quân và dân Vĩnh Linh đã chuyển cuộc sống từ mặt đất xuống lòng đất, họ đã kiến tạo một hệ thống làng hầm đồ sộ, độc đáo mà địa đạo Vịnh Mốc là đại diện tiêu biểu nhất.

Cuối năm 1965, các chiến sĩ đồn biên phòng 140, nhân dân Vịnh Mốc, Sơn Hạ đã chọn quả đồi sát mép biển, nằm ở phía Nam làng Vịnh Mốc, bổ nhát cuốc đầu tiên khai sinh ra làng hầm Vịnh Mốc kỳ vĩ này.
Toàn bộ địa đạo được đào trong lòng quả đồi đất đỏ có độ cao chừng 30m, rộng hơn 7ha. Hệ thống đường hầm cấu trúc hình vòm có kích thước khoảng 0,9m x 1,75m với độ dài 2.034m bao gồm nhiều nhánh nối thông với nhau qua trục chính dài 780m, có 13 cửa ra vào, được chống đỡ bằng cột nhà, gỗ và nguỵ trang khá kín đáo, tất cả đều đào chếch theo hướng gió, đảm bảo chức năng thông hơi cho đường hầm.

Địa đạo gồm 3 tầng có độ sâu và chức năng khác nhau. Tầng 1 cách mặt đất 8 - 10 mét dùng để cơ động chiến đấu và trú ẩn tạm thời, tầng 2 sâu 12 - 15 mét là nơi sống và sinh hoạt của dân làng, tầng 3 có độ sâu hơn 30 mét là nơi trung chuyển hàng hoá, vũ khí ra thuyền lên đảo Cồn Cỏ.
Để đảm bảo cho hàng trăm con người ăn, ở, sinh hoạt an toàn, tiện lợi, dọc hai bên đường hầm người ta khoét vào rất nhiều căn hộ, mỗi căn hộ đủ chỗ cho 3 - 4 người ở. Ngoài ra trong đường hầm còn có hội trường (sức chứa hơn 50 người dùng làm nơi hội họp, biểu diễn văn nghệ, chiếu phim), 3 giếng nước, bếp Hoàng Cầm, kho gạo, trạm phẫu thuật, trạm gác, máy điện thoại… đặc biệt có nhà hộ sinh, nơi ra đời của 17 đứa trẻ suốt trong hai năm 1967 - 1978.

Việc tổ chức phòng tránh, bảo vệ địa đạo rất phức tạp, đòi hỏi tính tổ chức, tự giác cao, bởi lẽ không chỉ đạn bom trút xuống mà còn người nhái, gián điệp tìm cách xâm nhập. Trong gần 2.000 ngày đêm tồn tại (từ 1965 - 1972), việc 17 đứa trẻ ra đời an toàn không một người nào bị thương đã nói lên sự lựa chọn đúng đắn, là sự tích kỳ diệu về mảnh đất và con người nơi đây.

Hơn thế nữa, vượt qua hoàn cảnh, họ không chỉ tồn tại mà còn tổ chức hàng trăm chuyến thuyền nan tiếp vận cho đảo Cồn Cỏ. Đảo Cồn Cỏ đứng vững và được Nhà nước tuyên dương anh hùng hai lần trong đó có sự đóng góp xứng đáng của quân và dân làng hầm Vịnh Mốc.
Đây thực sự là một công trình trí tuệ và sự nỗ lực phi thường của quân và dân Vịnh Mốc và lực lượng vũ trang. Trong điều kiện khó khăn thiếu thốn và luôn bị địch rình rập, đánh phá, quân dân Vịnh Mốc - Vĩnh Thạch đã đồng lòng góp sức, tổ chức khoa học hợp lý hoàn thành một khối lượng công việc đồ sộ.

Với hơn 18.000 ngày công, đào và vận chuyển ra khỏi lòng đất hơn 6.000m3 đất đá, mỗi mét đường hầm thực sự là kết tinh tình cảm, trí tuệ, ý chí quyết chiến, quyết thắng của quân dân. Từ cụ già chế tác dụng cụ đến nồi nước chè xanh, bữa cơm đạm bạc của các mẹ, các chị và sức lực cường tráng của các chàng trai. Làng hầm ra đời đã tạc vào lịch sử của quân dân Vĩnh Linh, Quảng Trị một nét son rực rỡ của chủ nghĩa anh hùng cách mạng.

Chiến tranh đã lùi xa, còn đó một làng hầm huyền thoại ngày ngày truyền lại niềm tin, ý chí cho thế hệ hôm nay và mai sau về sức mạnh nội lực của dân tộc VN. Từ đây, tất thảy bạn bè và những người từng là "kẻ thù" đều phải thừa nhận sự thần kỳ của một đất nước, một dân tộc mà sự tồn tại và chiến thắng của nó là tất yếu. Có rất nhiều dòng cảm xúc về làng hầm này, tất cả đều công nhận "Làng địa đạo Vịnh Mốc giống như một toà lâu đài cổ nằm im lìm trong lòng đất giấu kín biết bao điều kỳ lạ về những con người đã làm ra nó và thời đại nó đã sinh ra".

Sau khi đất nước hoàn toàn thống nhất, Bộ Văn hoá - Thông tin đã quyết định công nhận địa đạo Vịnh Mốc là di tích quốc gia và đưa vào danh mục di tích đặc biệt quan trọng. Hiện nay, địa đạo Vịnh Mốc là điểm thu hút mọi du khách đông nhất trong tuyến du lịch nổi tiếng và độc đáo.

Du lịch, GO! - Theo Vinhlinhclub, Canthuexe