Thứ Sáu, 29 tháng 4, 2011

Thác Tà Gụ – Khánh Sơn – Khánh Hòa

Thác Tà Gụ (thuộc ở huyện Khánh Sơn, tỉnh Khánh Hoà) với vẻ đẹp hoang sơ đầy quyến rũ, là điểm du lịch dã ngoại tuyệt vời trong quần thể du lịch sinh thái Khánh Hòa.

Từ trung tâm huyện Khánh Sơn đi ngược về hướng Tây Nam khoảng 15 km đường bộ là đến địa phận xã Sơn Hiệp. Nơi đây du khách dễ dàng nhận ra cảnh núi non hùng vĩ ở độ cao khoảng 1.300 m so với mặt biển, có không khí trong lành hòa quyện trong vùng rừng núi với các loại cây nhiều tầng, nhiều tán.

Xét về mặt địa lý, vẫn có thể coi Khánh Sơn là một cao nguyên rộng lớn của tỉnh Khánh Hòa. Do có vị trí lân cận với Lâm Đồng nên khí hậu nơi đây cũng có hai mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô. Quá trình tái tạo của vỏ trái đất đã tạo ra những cơn địa chấn cách ngày nay hàng tỷ tỷ năm làm cho điều kiện tự nhiên của vùng núi Sơn Hiệp này có cấu hình khác biệt so với các nơi khác.

Chính nơi đây thiên nhiên đã ban tặng cho vùng núi non hùng vĩ Sơn Hiệp dòng thác Tà Gụ.
Theo truyền thuyết, ngày xửa, ngày xưa khu rừng này có rất nhiều trăn, có con to như cây Tô Hạp 100 tuổi. Một buổi sáng mùa khô, trời mát mẻ, một bầy trăn từ dưới chân núi bò lên đỉnh kiếm mồi, chúng gặp một con voi lạc mẹ đứng ngơ ngác, một con trăn đầu đàn to khỏe lao tới quật ngã con voi. Cả hai con vật vùng vẫy làm gãy nát cây cối, cuối cùng cả hai rớt xuống vực thẳm, thân hình nát vụn. Voi mẹ mất con đi tìm nhìn thấy con mình đã chết nằm dưới vực sâu, voi mẹ thương tiếc con đứng trên đỉnh núi cao khóc than suốt đêm ngày rồi bỗng dưng hóa đá. Hai dòng nước mắt của voi mẹ hóa thành hai dòng thác.

Truyền thuyết khác kể rằng, từ thời xa xưa Tà Gụ là một dòng suối trong, tinh khiết, hàng năm vào mùa xuân cây cối xanh tốt nở đầy hoa trái, chim muông tụ hội về hót vang rừng, khí trời ấm áp. Các tiên nữ ở trên trời bay xuống tắm dưới suối Tà Gụ rồi lên đỉnh núi cao xõa tóc dài hóng gió. Một lần có một tiên nữ xuống tắm rồi lên đỉnh núi chải tóc, bầy chim muông thấy tiên nữ đẹp quá rủ nhau bay tới múa hát líu lo.

Nàng tiên thích thú vui đùa với chim muông quên mất thời hạn thiên đình cho phép xuống trần. Khi nhớ ra vội bay về trời thì cổng trời đã khép. Nàng tiên nọ đành trở lại, sống mãi dưới trần gian, rồi hóa thành thác Tà Gụ. Mái tóc nàng là hai dòng nước chảy. Từ đó thác Tà Gụ còn có tên là thác Nàng Tiên.

Thác Tà Gụ có thể được coi là một trong những thác đẹp nhất hiện nay đã tìm thấy ở Khánh Hòa. Từ ngọn núi Chalo đã tích tụ được những giọt nước xanh mát lạnh tạo thành một dòng chảy êm dịu, nhẹ nhàng đầy quyến rũ. Trước đây thác Tà Gụ được người dân bản địa gọi là thác Ngà bởi lẽ từ xa nhìn thác như cặp ngà voi. Nếu đứng ở chân thác nhìn lên thấy 2 dòng nước trắng xóa đổ xuống giống như một thiếu nữ đang đứng cúi đầu xõa mái tóc dài hóng gió. Còn từ trên đỉnh nhìn xuống, thác Tà Gụ giống như hai chiếc ngà voi to, khỏe, trắng muốt trút dài xuống lòng suối. Do dòng thác chảy vào suối Tà Gụ nên về sau nó được gọi là thác Tà Gụ.

Dưới chân thác là hồ nước trong xanh, rộng gần 200m2 nên du khách có thể bơi lội thỏa thích. Nằm về phía bên phải dòng thác khoảng 70m, một mỏm núi tách đôi lộ ra một dòng thác phụ đầy vẻ quyến rũ, hùng vĩ và huyền bí.

So với thác Đatanla hay thác Hang Cọp ở Đà Lạt thì thác Tà Gụ có nhiều điểm ưu việt hơn, tuy nằm trong không gian hùng vĩ nhưng dòng nước không ồn ào, gào thét mà trầm lắng kín đáo trong mọi hoàn cảnh nhờ sự đồng cảm, chia sẽ dòng nước mát lạnh của lòng hồ nằm ôm lấy chân thác. Nước hồ trong xanh, mặt hồ rộng gần 200m2 nên du khách có thể bơi lội thỏa thích. Nằm về phía bên phải dòng thác khoảng 70m, một mỏm núi tách đôi lộ ra một dòng thác phụ đầy vẻ quyến rũ, hùng vĩ và huyền bí. Suối thác

Dòng thác Tà Gụ cũng là nơi cung cấp nguồn nước tưới tiêu cho khu vực Tây Nam huyện Khánh Sơn. Dòng nước trải dài từ lòng hồ về xuôi tạo ra một con suối tuyệt đẹp. Dọc theo hai bờ suối gần 1km đều có chỗ lý tưởng cho du khách dừng chân hoặc dựng trại trước khi tiến lên chinh phục đỉnh thác.

Du khách đến Khánh Sơn không chỉ khám phá vẻ đẹp của thác Tà Gụ mà còn được tiếp xúc, tìm hiểu về đời sống vật chất, tinh thần của dân tộc Raklai, một dân tộc sống mộc mạc, thật thà mà kín đáo.

Kinh nghiệm người đã đi:

- Xuất phát từ Nha Trang là 3h chiều, đi theo đường đi Cam Ranh, gần tới Cam Ranh rẽ phải, đi lên Khánh sơn, đường đi vòng vèo qua núi, lên tới đỉnh đèo chắc độ cao khoảng 1500m gì đó , lúc đó tụi mình đi hơi tối nên lên tới đèo là 5h chiều, có 1 khúc sương mù dày đặc không thấy đường đi nên bạn có đi thì nhớ chạy cẩn thận.

Lên tới Khánh Sơn thì bạn hỏi người dân, chạy khoảng 15km nữa mới tới nơi, lúc đó bọn mình lên gần tới nơi thì là 6h tối! Lúc đó Cầu đang làm nên xe lớn không qua được, mượn xe máy của người dân thì họ nói là giờ này không nên vào đó nguy hiểm lắm vì có thú rừng.

Tụi mình phải ngậm ngùi quay về, lúc về trời thì tối + mưa+sường mù nên chỉ còn biết bám vạch trắng giữa đường mà chạy chứ phía trước không thấy gì luôn, nên Bạn có đi thì nhớ đi xe máy, đi sớm về sớm chứ không là lạnh và đầy sương mù sẽ rất khó chạy .

- Các bạn xuất phát từ Nha Trang tầm 5 ~ 6h là vừa.ăn sáng và mang đồ ăn theo chứ trong thác không có dịch vụ gì cả. đi theo đường Nguyễn Tất Thành đến Mỹ Ca,có 2 đường để đi,theo đường chợ Mỹ Ca hoặc tiếp tục chạy vào Ba Ngòi.từ chợ MC đi thẳng,hỏi đường,nếu từ ba ngòi thì hỏi đường lên ga,nằm bên tay phải,rồi cứ thế đi thẳng. sau khi đến Khánh Sơn,tiếp tục chạy thẳng sẽ vào 1con đường đất,bây giờ hình như đã được đổ bê tông. đến một ngã ba, bên trái đường có quán nhỏ thì rẽ phải. Cứ thế mà đi là tới,còn nếu đi thẳng sẽ lên bẫy đá Pinăng tắc. Đi xe máy thì mang đồ sửa xe theo, mình đã từng phải dắt bộ 10km mới có chỗ vá đấy.

Khám phá Khánh Sơn

Du lịch, GO! Tổng hợp

Một sớm trên bãi biển Cam Bình

Khoảng hơn chục năm trở lại đây, địa danh Bãi biển Cam Bình (thị xã La Gi) trở thành điểm du lịch có sức hấp dẫn vì cảnh quan sinh thái của một rừng dương xanh phủ tràn ngập bóng mát và một bãi cát trắng lóng lánh đầy nắng vàng.

Từ lâu, bãi biển Cam Bình đã nổi tiếng hoang sơ với rừng dương bát ngát, cát trắng lấp lánh dưới nắng, sóng biển vỗ nhẹ, lý tưởng cho việc tắm biển, chơi trò chơi hay cắm trại. Không những vậy, việc đánh bắt gần bờ bằng mủng của ngư dân xã Cam Bình cũng cung cấp cho khách du lịch đến nơi này nhiều loại hải sản tươi ngon, đặc biệt là loại cá đục có vẩy màu vàng, non ngón tay, nướng chấm mắm me cũng ngon mà làm gỏi cũng ngọt.

Khách du lịch khá quen thuộc với những thức ăn hải sản được chế biến một cách dân dã, tươi rói hương vị miền biển. Nồi cháo cá hanh hành ngò béo ngậy, lò than hồng thơm lừng những con cá đục, mực,ghẹ…

Bởi ngay trên bãi ngang này tự dưng định hình một làng nghề biển hiếm thấy bởi chỉ toàn những thuyền thúng chài lưới ven bờ, có đến bốn trăm thuyền thúng ở đây. Ngày trước, nghề này là loại thúng chai bằng tre nang, trét dầu rái, mũ cây chai rừng và bột xảm …

Hàng loạt chiếc thúng đường kính 2- 2,5 mét, tròn vành nằm phơi trên bờ cát trắng và ngoài biển sóng nhấp nhô những chiếc thúng tựa như nốt nhạc trên dòng âm thanh rì rào của biển cả. Có thúng không phải dùng dầm bơi như trước nữa mà gắn một máy kô-le khoảng 0,65 sức ngựa, đủ sức cưỡi sóng thong dong.

Theo chỉ dẫn của những ngư dân nghề thúng, tôi tìm đến nhà của một người đã góp phần làm cuộc “cách mạng” từ chiếc thuyền thúng chai đan tre thô sơ xưa cũ để sản xuất hàng trăm sản phẩm thuyền thúng với chất liệu công nghệ “hiện đại” hơn. Đó là anh Lê Văn Nam, chủ cơ sở sản xuất và cũng là nhà ở của anh trên mảnh vườn gần một mẫu, thuộc thôn Mũi Đá, xã Tân Phước (La Gi), không xa mấy với bãi biển Cam Bình.
Nhà xưởng làm thúng đang có trên trăm chiếc, có chiếc đang công đoạn hoàn thiện có chiếc chờ khách mua đến nhận hàng. Khách hàng của anh không những ở La Gi để theo thuyền tàu lớn ra khơi câu mực, mà còn bán ra Phan Thiết, Bình Châu. Mùi hợp chất composite, vải bạc sợi nhựa… làm nên cái không khí miệt mài khá bài bản. Anh Nam đã trả giá bằng công của cả năm trời mày mò mới được như ngày hôm nay. Nhìn thấy những chiếc thúng thành phẩm chưa xuất xưởng cũng như hàng trăm chiếc đang hành nghề đều một màu xanh dương nước biển, anh Nam nói để hoà với không gian đại dương và dịu dàng hơn, nên trở thành thương hiệu thuyền thúng Văn Nam. Cho nên bây giờ tên gọi thúng chai bằng nguyên liệu tre nang không còn nữa. Hỏi ra với số tiền 3 hoặc cao nhất 5 triệu đồng, với những gia đình làm nông kết hợp nghề biển ven bờ thì có khả năng sắm được.

Những ngư dân thuyền thúng ở đây đều sống bằng nghề nông, mà thuyền thúng là loại nghề “nông nhàn”, nhưng dần dần có người sống được và lấy làm nghề chính sống theo khu du lịch này. Hôm tôi đến, đó là buổi sáng cuối năm, biển êm vừa đang giờ thuyền vào bờ. Những tay lưới giũ ra đầy những con cá hố, cá hanh lẫn cùng ghẹ, tôm, mực…Một ngư dân với giọng quê Quảng Trị, nói có hôm may mắn cũng kiếm được 5-6 triệu đồng và khi gặp sóng to, khi biển động chỉ vài ba trăm ngàn….nhưng bù được cho khoảnh lúa èo uột trên đất ruộng vùng cát bạc màu. Đây đó những chiếc xe bò một, hoà nhập với cảnh rộn ràng bờ biển để tải những chiếc thuyền thúng lên bờ, thay vì trước đây phải 5- 6 người hì hục gồng vai khiêng đẩy.

Phần đông dân cư địa phương là người quê Quảng Trị. Họ kể lại từ năm 1972, mùa hè đỏ lửa, chế độ cũ đưa cả làng Cam Lộ, Gio Linh…vào định cư vành đai tỉnh lỵ Bình Tuy sống đến nay, rồi coi đây là quê hương của mình. Do vậy mà có tên Cam Bình là từ chữ Cam Lộ ghép với Bình Tuy. Gia đình anh Lê Văn Nam, chủ cơ sở sản xuất thuyền thúng là một hình ảnh thu nhỏ cái gian khổ, sự cật lực và ý chí vươn lên của người dân bỏ làng quê, đi lập nghiệp.

Năm nay anh Nam 47 tuổi nhưng vợ chồng anh đã có 6 người con, anh kể theo cha mẹ vào đây, cũng như nhiều gia đình cùng cảnh ngộ di dân, có thể nói là hai bàn tay trắng. Vậy mà anh nuôi được 5 đứa con đang học cao đẳng, đại học còn lại 1 đứa đang học lớp 12 THPT. Trong bà con xóm Mũi Đá – Cam Bình, cũng có nhiều người như anh Châu, anh Từ, anh Ngà …đã từ cái khổ rồi nay có được một cơ ngơi cuộc sống ổn định và con cái trưởng thành, khác với cái thời vất vả của các anh ngày nào.

Dọc dài bãi biển êm ả này hiện có gần 20 dự án du lịch với loại hình nghỉ dưỡng, resort và một khu du lịch Cộng đồng, cặp theo con đường nhựa rộng chạy xuống trung tâm thị tứ La Gi không đầy 4 cây số, nhưng nay các dự án này vẫn chưa có gì để gọi là chuyển động kể cả khu qui hoạch du lịch Cộng đồng lẽ ra là đòn bẩy tác động, vì vướng mắc chuyện đền bù, giải toả bị kéo rê từ nhiều năm nay.

Dự án đợi chính quyền, dân chờ dự án, đất vàng hoá đất hoang…may mà còn một xóm bãi ngang thuyền thúng với những chiếc quán mái hờ nép dưới bóng dương xanh, để có một địa danh Cam Bình thi vị và triển vọng. Nhưng có điều nhiều người băn khoăn không biết nay mai hàng trăm chiếc thuyền thúng này sẽ đi về đâu. Không những đó là một nghề sống của dân địa phương mà còn là cái chợ hải sản tự phát nho nhỏ tạo nguồn ẩm thực dân dã ngon tươi và một hình ảnh làng nghề trong ký ức của khách du lịch đến đây.

Du lịch, GO! - Theo Lagitoday

Chuyến lên núi Thần Đinh

Nếu có dịp đi tàu hay xe từ Nam ra Bắc hoặc Bắc vô Nam, lúc qua địa phận Quảng Bình, gần ga Long Đại, nhìn về hướng Trường Sơn, du khách sẽ thấy một ngọn núi sừng sững oai vệ, nổi bật hẳn lên bầu trời: Núi Thần Đinh. Núi Thần Đinh gắn liền với lũy Trường Dục trong hệ thống Lũy Thầy của Đào Duy Từ, là dấu tích của thời kỳ Nam-Bắc phân tranh mấy trăm năm qua.

Chuyện leo lúi đi rừng với khách Tây là chuyện nhỏ, với người mình hơi hiếm. Du lịch ai cũng tận dụng phương tiện di chuyển tối tân, ăn ở phải tiện nghi, thường quanh quẩn nơi đình đám hội hè, ăn chơi mua sắm. Một vài thắng tích trên núi cao như Chùa Đồng Yên Tử (Quảng Ninh), trung tâm nghỉ mát Bà Nà (Đà Nẵng) đều có cáp treo. Hầu hết du khách chỉ muốn đến ngay điểm chính để xem rồi về, trong khi đi bộ được biết thêm bao nhiêu điều mới lạ dọc đường. Lên chùa Đồng yên Tử mà không qua con Đường Tùng (700 năm), để chiêm ngưỡng những cây tùng cổ thụ được trồng từ thời vua Trần Nhân Tông xuất gia, những cây tùng rễ to như những con trăn khổng lồ bò trên mặt đất, thì thật đáng tiếc.

< Thành Đồng Hới.

Những năm gần đây khi đất nước “mở cửa”, du khách phương Tây đua nhau đến Việt Nam, du lịch là để thể nghiệm khả năng thích nghi, ứng phó của bản thân, họ thích những nơi còn hoang vắng, còn “bán khai, chậm tiến”, còn nguyên sơ... Việt Nam là mô hình du lịch họ muốn khám phá. Và, cũng từ đó xuất hiện nhóm chữ “Tây ba lô”, “khu phố Tây”, ngành du lịch có thêm môn “Treking”.

Nhiều năm trước tôi đã lên chùa Đồng núi Yên Tử, đền Thượng chùa Thầy, chùa Tây Phương (Hà Tây), chùa Non Nước (Đà Nẵng), núi Bài Thơ (Quảng Ninh)...cao nhất có lẽ động Tiên Sơn (động khô) ở Phong Nha (Quảng Bình) 600 bậc, lên đến nơi tưởng chừng hết hơi thở.

< Núi Thần Đinh nhìn từ bờ bắc sông Long Đại.

Núi Thần Đinh cao thăm thẳm như thế, tất không phải dễ đi. Mỗi lần về quê, nhìn lên đỉnh núi cao vòi vọi, có lúc nhòa trong mây, lòng lại không yên. “Đi Đông đi Tây, viết hươu viết vượn mà ngay nơi chôn nhau cắt rốn của mình, có một ‘danh lam kỳ tích’ lại không hay biết thì chẳng có gì đáng nói”. Nghĩ thế nên năm nay, sau một tuần đi Lào Cai chụp ảnh mùa lúa chín cao nguyên với mấy anh em nhiếp ảnh quận Bình Thạnh Sài Gòn, tôi quay vào Đồng Hới và quyết “thám hiểm” núi Thần Đinh. Lại nghe nói trên núi có chùa Kim Phong, ngôi chùa cổ lâu đời, người địa phương thường gọi chùa Non, lòng tôi càng hăm hở.

Đồng Hới có một nhà thơ tôi mến, thơ anh có khí phách, nhiều hình ảnh sắc bén mạnh mẽ, tôi đã dành một bài “Tản mạn đường xa” để nói về anh. Anh quí và hiểu hoàn cảnh tôi, gần anh tôi không sợ chuyện “bày vẽ” nọ kia. Lúc nghe tôi ngỏ ý muốn lên núi Thần Đinh, anh tán đồng và đưa tôi về trọ lại nhà anh trên Cộn để dẫn tôi đi vào ngày hôm sau.

- Anh  lên núi Thần Đinh chưa?
- Mấy năm trước đã đi.
- Núi cách đây bao xa, có dễ đi không anh?
- Không xa, gần xã An Ninh của anh, đường lên núi đã xây tam cấp dễ đi.
- Vậy mai mình khởi hành sớm, leo núi đỡ mệt.


< Núi Thần Đinh và đường Trường Sơn.

Sáng hôm sau, chúng tôi tìm quán cháo lươn điểm tâm trước khi lên đường. Tôi thích lối nấu cháo cá, cháo lươn của miền Trung, cháo không đặc nhuyễn như nơi khác, lúc ăn nhận rõ hương vị thơm ngon của lươn. Tuy vậy không nơi nào cháo lươn ngon bằng xứ Nghệ. Trong làng ẩm thực có danh mục “Lươn Nghệ An 18 món”, với tôi, mỗi món cháo cũng đủ rồi.

Từ Cộn, chúng tôi chạy xe gắn máy theo đường mòn về hướng Nam. Núi Thần Đinh cách thị xã Đồng Hới 25km, qua cầu Long Đại đã thấy Thần Đinh mờ mờ trong mây. Thêm một đoạn nữa gặp một đường xe rẽ phải, có bảng chỉ dẫn: “Chùa Non núi Thần Đinh”. Từ quốc lộ vào chân núi khoảng 3km, đường sỏi đá chông chênh. Chiếc xe gắn máy của anh bạn đã đến thời kỳ “cà tàng” nên hơi vất vả, những lúc nó rống lên gồng mình mang hai chúng tôi qua dốc, thấy mà tội. Đất đai không mấy tốt, thôn làng thưa thớt cuộc sống khô khan. Chúng tôi ghé quán bên đường mua bó nhang, tôi hỏi cô bán hàng:

- Lên núi bao nhiêu bậc cấp em biết không?
- Dạ, 400 bậc.

< Đường lên núi Thần Đinh  Đã thi công xong.

Tôi yên tâm, 400 thì thừa sức. Nhiều bạn thân quen thường nhắc nhở “chớ phiêu lưu, tuổi càng lớn càng không nên lên cao”. Đúng như vậy, tôi rất ngại leo lên lầu ba lầu bảy, mỏi chân mất sức chả lợi gì.

Nhưng, lên núi lên rừng, tuy mệt, song lại được dịp thưởng thức nhiều điều mà suốt đời sống ở đồng bằng không dễ có. Một ngọn gió nhẹ, một bông hoa rừng, tiếng chim hót trên tầng cao thanh khiết, nơi tách biệt hẳn trần gian, lý thú lắm chứ. Vả lại cũng do thói quen một phần, khỏe tay mạnh chân mà ngồi mãi một nơi thì khi phải đi bộ một quãng cũng thấy ngán. Thường xuyên đi lại, đã không ngán lại còn thích. Du sơn du thủy là lội suối leo đèo, là thích nghi với mọi hoàn cảnh, không đòi hỏi tiện nghi kiểu phố phường. Bao nhiêu năm, qua những chuyến đi đã giúp tôi thấy dễ dàng trong mọi việc. Mỗi lần “vượt khó” lại như được tăng thêm khí thế, lại hăng hái hơn. Và, tôi nghiệm ra khó khăn là ở lòng người cư xử với nhau, chuyện hiền thành tội dữ, chuyện cái kiến biến thành ông voi, còn cảnh vật dù có cheo leo hóc hiểm cũng chẳng bao giờ có ý làm hại mình.

< Cầu Long Đại và núi Thần Đinh.

Tôi chưa nghe ai than phiền khi lên Chùa Đồng Yên Tử, lên động Huyền Không, trái lại thường nghe tả oán ăn nhà hàng này, ở khách sạn kia.

Ngay chân núi có một vài nhà dân, cũng bán nhang đèn vừa giữ xe cho khách. Trước khi lên bậc tam cấp đầu tiên, tôi nhìn xuống một vùng ruộng nương hoang vắng chẳng khác gì cảnh vật lúc tôi còn nhỏ. Núi đồi xứ mình không như xứ người, lam nham đủ thứ cây cối, ở Mỹ, những quả đồi trơn tru rõ nét, rải rác điểm vài ba cây ôốc (oak) già, trông thật mát mắt, đẹp và nghệ thuật, tưởng như do bàn tay người tạo nên.

< Miếu cổ.

Nhìn những bậc đá chẻ thẳng thớm cao dần thoai thoải, tôi yên tâm, “vầy thì đi mấy cũng chẳng sao”. Chừng vài chục bậc, độ dốc đứng dần, được 100 bậc thì không những dốc đứng mà bậc đá cũng dày hơn, 20cm vừa tầm bước, lên 25cm, hai chân phải tăng sức gấp đôi, mệt thấy rõ. Đến bậc thứ 200, dừng lại nghỉ và mừng thầm, “nửa đường rồi”. Đưa máy ảnh ngắm xuống một vùng ruộng đồng đồi núi nơi đây, khác hẳn cảnh trong miền Nam. Một cụm núi bên tay phải, máy xay đá nhả khói lẫn với bụi đá do nổ mìn, làm mờ một góc trời, một vài mái nhà ngói rải rác ven đồi bạch đàn.

Người bạn chỉ cho tôi, phía xa tít vùng nước bạc là phá Hạc Hải (huyện Lệ Thủy). Đi tiếp chừng tiếng đồng hồ, đến bậc 400, nhìn xuống xóm làng thăm thẳm, nhìn lên đỉnh núi còn đâu đâu. Anh bạn lại khích lệ: “Gần tới rồi, lên chỗ cây kia là đường bằng dễ đi”. Nghỉ lấy hơi đi tiếp, cứ mỗi 50 bậc, 100 bậc lại có một khoảng trống bằng phẳng chừng 5m vuông, có lẽ tương lai sẽ là quán hàng cho khách dừng chân. Mỗi khi tôi tỏ vẻ nản, lại nghe điệp khúc “Tới chỗ cây kia...”. Lúc lên đến đỉnh thì ngay bậc cuối cùng có số 995 bằng sơn đỏ.

Tôi không ngờ mình đã lên cao như vậy. Cô bán nhang và anh bạn nhà thơ cũng “bí mật”, không cho tôi biết trước số 995, sợ tôi ngại mà bỏ cuộc chăng. Hít thở bầu không khí của núi rừng nguyên sinh một lúc, tôi có cảm giác như người khỏe hẳn ra và có chút chút tự hào.

Đứng giữa một một vùng vài trăm mét vuông, cây cối xác xơ, cảnh hoang tàn do cơn bão số 9 đi qua mấy hôm trước. Một hai mảng tường của chùa xưa, gạch vữa rã nát theo tháng năm bám rêu đen cháy, cạnh một ngôi miếu nhỏ bị bể toang một góc chơ vơ. Phía xa có hai nấm đất đầy chân nhang như mộ hoang. Đấy là những gì còn lại của ngôi chùa Kim Phong mấy trăm năm trước.

Anh bạn châm lửa đốt nhang, mỗi người một nắm, chúng tôi tùy tâm khấn vái. Trong ánh nắng chan hòa của giờ Ngọ, trên đỉnh Thần Đinh, trời im gió, không gian lặng như tờ, tôi có cảm tưởng lời khấn của mình vang vọng thật xa, một cảm giác nằng nặng khó tả: Vừa bồi hồi tiếc thương, vừa cảm động sung sướng. Tôi không bao giờ nghĩ mình có dịp đến một nơi linh thiêng lạ lẫm như vầy, ngay nơi mình sinh đẻ.

Quê Hương thường được ngợi ca do mang lại lợi nhuận vật chất “Rừng vàng biển bạc” mà bỏ quên hồn thiêng sông núi, chứng tích còn khắp nơi trên dải đất chữ S  từ mấy nghìn năm qua. Chùa Kim Phong núi Thần Đinh chỉ mới một.

Chúng tôi cắm nhang một vùng chung quanh ngôi miếu cổ, lặng yên mặc niệm. Được nửa tuần nhang, tôi theo tam cấp xuống phía bên kia, nơi có giếng Tiên, trước đây nước rất trong và không bao giờ cạn.

Xuống một đoạn, tôi sực để ý đến một khối đá xanh đường kính đến 5m, màu sắc giống loại đá chung quanh nhưng tạo hình thì rất lạ. Chân chia nhiều khía bè ra như gốc một đại thụ, mỏm bị gãy ngang như thân cây bị chặt. Da đá bị băm khứa hoặc nứt kiểu vỏ cây. Tôi sanh nghi và tự hỏi “Không lý đây là một dạng mộc hóa thạch?” Tôi dừng lại xem thật kỹ và thấy đúng là cây hóa đá. Bởi những tảng đá chung quanh đều tròn trịa, không có tảng nào bị nứt nẻ và chân đá đầy đặn chứ không chia thành cạnh như gốc cây. Kỹ hơn nữa, có một mảng dày 2cm, lớp này bị rạn nứt như vỏ cây, trong khi phần ruột thì nhẵn mặt. Tôi gọi anh bạn lại giải thích và nhờ phụ kéo cây cỏ phủ ngoài để chụp ảnh. Đây là loại cổ thụ lớn nhất đã hóa đá, có lẽ nơi này nhiều nghìn năm trước bị chôn vùi, sau khi hóa thạch đất bị xói mòn lòi cây ra. Tôi hỏi anh:

< Phế tích chùa Non.

- Trước giờ anh chưa nghe ai nói chuyện này sao?
- Đây là lần đầu, nếu anh không nói rõ tôi cũng không sao biết. Mà đúng là gốc cây chứ đá thì không như ri.
- Anh biết bây giờ giới sưu tầm và buôn đá rất ham thứ này, nếu không khéo họ đào và xeo đi từng mảng thì mất hết ý nghĩa và phá luôn giá trị của di tích. Vấn đề làm sao báo cho TTVH tỉnh biết để có cách đề phòng.
- Tôi sợ cũng khó, với lại phải người am hiểu và có tấm lòng mới được.
- Núi Thần Đinh nếu giữ nguyên phần tường lở của chùa, ngôi miếu bể một góc, và gốc cây hóa đá này, thì chắc chắn nơi đây sẽ là điểm du lịch sinh thái hiếm có và đắt giá. Có thể nói độc nhất vô nhị, du khách sẽ không ngại khó khăn để được thấy dấu vết ngôi chùa xưa mấy trăm năm, và gốc cây từ nghìn năm hóa đá. Chỉ thế thôi không cần phải rườm rà bày vẽ kiểu sân khấu làm sai lạc ý nghĩa, khách họ lại cười cho.

Anh bạn nghe tôi thuyết giảng hăng quá, cứ trầm ngâm, tôi cũng không buồn vặn hỏi và chợt quay lại mình, đặt ra những nghi vấn tình tự quê hương, sơn hà xã tắc. Xưa kia, tổ tiên biết tôn vinh xứ sở, biết ca ngợi non sông, ngày nay con cháu đã làm được gì, và đang làm gì đây! Cứ nhìn cảnh xẻ núi phá rừng, không tô bồi đất tổ, để cho ngày một hao mòn, thế nhưng khi cần thì vẫn hát vang với niềm tự hào “ Ôi quê hương ta đẹp tuyệt vời”.

Trần Công Nhung
Du kịch, GO! - Theo Viendong daily, Bulukhin

Lũy Thầy

Luỹ Thầy (còn gọi là luỹ Đào Duy Từ) gắn liền với nhà quân sự tài ba Đào Duy Từ. 
Ông là người xã Hoa Trai, huyện Tỉnh Gia, tỉnh Thanh Hóa. Luỹ Thầy được ông hiến kế xây dựng bằng tất cả tài năng và tâm huyết của mình, nó là một hệ thống thành luỹ mang tính chất phòng ngự được hình thành trong cuộc chiến tranh Trịnh - Nguyễn (thế kỷ XVII- XVIII)
Người Quảng Bình, từ người dân quê đến nhà nho học thuở xưa, không mấy ai không biết đến câu ca dao:

"Luỹ Thầy ai đắp mà cao
 Sông Gianh ai bới ai đào mà sâu"
Luỹ Thầy gồm các luỹ: Trường Dục, Nhật Lệ, Trường Sa thuộc thành phố Đồng Hới và huyện Quảng Ninh.

Phòng tuyến Trường Dục

Được xây dựng vào năm 1630, bắt đầu từ núi Thần Đinh men theo bờ sông Long Đại, qua các làng Xuân Dục, Trường Dục, Cổ Hiền vòng xuống đến làng Bình Thôn, Quảng Xá băng ra đến đầu phá Hạc Hải. Luỹ được đắp bằng đất sét dài 10km, cao 3m, chân luỹ rộng 6m.

Luỹ được xây dựng theo kiến trúc chữ Hồi, có tác dụng ngăn chặn quân Trịnh đánh phá phía Đàng Trong.

Phòng tuyến Nhật Lệ

Sau khi đắp xong luỹ Trường Dục, đến năm 1631 chúa Nguyễn lại tiếp tục cho xây luỹ Nhật Lệ. Luỹ cao 1 trượng 5 thước (6m), dài hơn 3000 trượng (12km), ngoài được đóng cọc bằng gỗ lim. Luỹ Nhật Lệ được chia làm hai đoạn: Đoạn thứ nhất chạy từ núi Đầu Mâu về Cầu Dài, thiết lập ở bờ nam sông Long Đại. Đoạn thứ hai từ Cầu Dài chạy về đến cửa Nhật Lệ. Luỹ nay thuộc địa phận huyện Quảng Ninh, các xã Phú Hải, Đồng Phú, Hải Thành (thành phố Đồng Hới).

Lũy Trường Sa

Được xây dựng vào năm 1633, sử cũ không nói rõ luỹ này dài bao nhiêu trượng, cao rộng bao nhiêu thước mà chỉ nói là luỹ chạy dọc theo ven biển xã Bảo Ninh (thành phố Đồng Hới), từ cửa biển Nhật Lệ cho đến xã Hải Ninh (huyện Quảng Ninh).

Trên chiều dài 3000 trượng (12km) của luỹ từ Đầu Hâu đến cửa Nhật Lệ hiện nay chỉ còn lại 3 cửa: Cửa Tấn Nhật Lệ; Cửa Lý chính Đại quan môn, sau đổi là Võ Thắng Quan, còn gọi là cổng Thượng; Cửa vào Dinh Quảng Bình còn gọi là Quảng Bình Quan.

Cùng kết hợp với ba phòng tuyến trên, Quảng Bình Quan được xây dựng nhằm tăng cường thêm sức mạnh cho phòng tuyến, giao thông đi lại cho nhân dân trong thành. Quảng Bình Quan được vua Minh Mạng cho xây dựng lại bằng gạch đá vào năm 1825. Cổng có kích thước dài 2 trượng 1 thước (8,4m), rộng 2 trượng 5 thước (10m), cao 5 thước (2m), thành ngoài hộ vệ cửa quan dài 14 trượng 6 thước (58,4m), cao 3 thước (1,2m). Ngày nay Quảng Bình Quan đã được trùng tu tôn tạo lại đẹp đẽ, uy nghi ngay cạnh quốc lộ 1A cách Cầu Dài chừng vài trăm mét về phía Bắc.

Trong suốt cuộc nội chiến Trịnh - Nguyễn, luỹ Đào Duy Từ phải chống đỡ với rất nhiều cuộc tấn công của quân Trịnh, nhưng chưa bao giờ bị thất thủ mà ngược lại đã giáng cho quân Trịnh nhiều đòn đau. Năm 1633 Trịnh Tráng kéo quân đến cửa biển Nhật Lệ dàn trận đánh quân Nguyễn, bị quân Nguyễn đánh cho tơi bời, quân Trịnh vứt bỏ xe pháo mà chạy không dám ngoái đầu lại. Năm 1648 quân Trịnh tấn công quân Nguyễn tại luỹ Trường Dục nhưng chẳng những không đạt được mục đích của mình mà còn thiệt hại nghiêm trọng: 3000 lính cùng với 3 tướng lĩnh cao cấp bị bắt làm tù binh (l). Đến năm 1672 quân Trịnh với lực lượng hùng hậu đã tiến đánh vào luỹ Nhật Lệ và đây là lần giao tranh ác liệt nhất trong lịch sử cuộc nội chiến với 6 lần liên tục tấn công vào mặt luỹ nhưng vẫn không được. Cuối cùng quân Trịnh phải ôm hận rút lui và không cách nào hạ được luỹ.

Với những giá trị về lịch sử và kiến trúc quân sự, luỹ Đào Duy Từ đã được Nhà nước công nhận là di tích Quốc gia.

Hiện nay, tuy luỹ Đào Duy Từ không còn nguyên vẹn như dáng vẻ ngày xưa, thậm chí có nhiều đoạn đã bị mất hoàn toàn do thời gian bào mòn và chiến tranh tàn phá, nhưng vẫn có một số đoạn còn lưu giữ được đấu tích, rõ nét nhất là đoạn luỹ sát cửa sông Nhật Lệ hiện còn vết tích là một gò cao, cây cối mọc xanh tươi, góp phần tạo cảnh quan cho thị xã; hay đoạn luỹ Trường Dục ngày nay đã được nhân dân trồng cây chắn gió góp phần hạn chế thiên tai.

Đến với Quảng Bình ngày nay du khách có thể qua những dấu tích đó để phần nào hình dung được dáng vẻ xưa của nó và chiêm nghiệm được những điều mà sử sách đã ghi chép. Du khách sẽ có điều kiện tìm hiểu kỹ hơn về một công trình kiến trúc quân sự, một tuyến phòng thủ có quy mô lớn nhất trong lịch sử thời phong kiến nước ta. Nó cũng thể hiện được một tài năng quân sự, một tầm nhìn chiến lược của nhà quân sự tài ba Đào Duy Từ.

Cuộc nội chiến Trịnh - Nguyễn đã lùi xa hơn ba thế kỷ, luỹ Đào Duy Từ cũng có nhiều đoạn hiện mất dấu xưa, nhưng những ảnh hưởng, những vết tích văn hóa của thời kỳ đó vẫn đang còn tồn tại trên đất Quảng Bình. Điều đó được thể hiện qua một số 1ễ hội hiện có tại đây như: Lễ hội cướp cù ở làng Trấn Ninh (nay là phường Đồng Phú) vốn là một môn thể thao trong quân lính nhà Nguyễn thời bấy giờ; hay lễ hội bơi trãi hiện nay của cư dân năm làng quanh Đồng Hới cũng vậy, nó vốn có nguồn gốc từ các đội thuỷ quân nhà Nguyễn xưa kia.

Ngày nay luỹ Đào Duy Từ đang cùng với các điểm du lịch khác như động Phong Nha, bãi biển Nhật Lệ, thành Đồng Hới... tạo nên sức thu hút đối với khách du lịch đến tham quan, tìm hiểu và từ đó tạo ra những lợi ích về kinh tế góp phần thúc đẩy cho nền kinh tế du lịch tỉnh nhà ngày một phát triển hơn.

Du lịch, GO! - Theo Du lịch Quảng Bình

Thung Lũng Vàng - điểm đến lý tưởng

Cách trung tâm thành phố Đà Lạt khoảng 15km về hướng Tây Bắc, nằm bên cạnh hồ Đan Kia - suối Vàng, khu du lịch Thung Lũng Vàng là một trong những địa điểm du lịch mới của Đà Lạt.

Hồ Đan Kia - suối Vàng nằm dưới chân núi LangBiang. Đây là hồ nhân tạo cung cấp nước cho thành phố Đà Lạt. Trong quần thể rừng thông bạt ngàn và mênh mang đồi cỏ có diện tích 170ha, Thung Lũng Vàng là khu du lịch sinh thái được sự ưu đãi đặc biệt của thiên nhiên.

Thông và đồi cỏ làm nền cho hoa, đá, hồ nước, thác và nhiều cảnh quan đẹp. Trên lưng chừng đồi thông, có một dòng suối nhân tạo dài khoảng một cây số, những lớp đá được sắp đặt có chủ ý nhưng cứ như vô tình giống dòng suối tự nhiên.

Nước từ suối này đổ xuống và chia thành hai dòng chảy có tên Tĩnh và Động. Loanh quanh qua con đường đất, hai dòng suối nhập lại một rồi đổ về làm quay bánh xe nước.

Dòng suối và bánh xe nước này khiến du khách có thể liên tưởng đến hình ảnh guồng nước ở các sông miền Trung hay núi rừng miền Bắc.

Xa xa, lại thấp thoáng những chiếc cầu tre lắt lẻo, những ụ rơm, giếng nước, bánh xe gỗ, nhà chòi... gợi nên hình ảnh đồng quê Nam bộ.

Chiếm diện tích lớn nhất Thung Lũng Vàng là hoa viên cây cảnh với nhiều giống cây quý được trồng tỉa, chăm sóc rất công phu. Tại đây có thể thấy được thông 5 lá Việt Nam, thông 5 lá Trung Quốc, bạch tùng, thanh tùng, tùng búp, tùng xà ngũ phúc, thông đỏ, vườn hoa đỗ quyên...; một số giống cây từ nước ngoài du nhập vào như voong ke, hồng sa mạc, phong lữ thảo, cây lá phong...

Ngoài ra, Thung Lũng Vàng không thể thiếu nhiều loại hoa đặc trưng của Đà Lạt như cẩm tú cầu, thạch thảo, mimosa... được trồng theo từng cụm, từng vạt, du khách có thể tha hồ chụp hình. Cuối vườn bonsai có cây bồ đề gần 300 năm tuổi.

Cỏ cây chen lá đá chen hoa, những phiến đá đủ hình thù tạo cho vườn hoa vẻ đẹp rất riêng, không tìm thấy ở các khu du lịch khác. Địa danh
Thơ mộng và có vẻ huyền ảo là những khu vui chơi với những cái tên gợi sự khám phá như vườn đá Tứ Linh, có bức tượng lớn mang hình dáng vị thần đang gieo hạt; khu vui chơi Thái cực; Đại viên cảnh; hồ Lưỡng nghi; cùng những viên đá lót lối đi lên đồi được xếp theo hình quẻ “Thiên hỏa đồng nhân” trong Kinh Dịch; mỏ neo khổng lồ...
Nơi tận cùng của Thung Lũng Vàng là hồ Đan Kia - suối Vàng. Đứng trên triền dốc nhìn xuống một vùng nước tĩnh lặng, mênh mông bát ngát, hàng thông rũ bóng xuống mặt hồ đẹp như một bức tranh thủy mặc.

Bên kia hồ cũng bạt ngàn rừng thông, gợi cảm giác thèm được phiêu lưu. Có thể nằm dài trên đồi cỏ nghe tiếng thông reo, xa xa lẫn trong tiếng nhạc thông vẳng lại tiếng cười nói của từng đoàn khách đang cắm trại. Khí hậu mát mẻ, trong lành tưởng như những bận rộn, lo toan đời thường không tồn tại; chỉ có ta với đất, trời, cỏ cây, hoa lá...

Dạo chơi hết khuôn viên Thung Lũng Vàng, bạn có thể thoải mái chụp hình từ vạt cỏ xanh dưới thung lũng, đến đồi hoa, rừng thông... Rồi cứ men theo hoa mà đi cho đến khi bạn thấy thấp thoáng hai trụ cổng bằng đá. Cạnh đó có một phiến đá hình bảo kiếm, khắc dòng chữ kiểu thư pháp “Nẻo về của ý” như một điểm nhấn cho cổng chào khác của Thung Lũng Vàng.

Vào mùa hoa đào nở, khách có thể nhìn ngắm những bông hoa anh đào duyên dáng in bóng xuống mặt hồ. Những đóa hoa mãn khai nở thắm một góc trời, vương vãi trên lối đi...

Những cây anh đào Nhật Bản làm nên nét đẹp dịu dàng mềm mại cho Thung Lũng Vàng. Ai đó chợt buông câu hát: “Ai lên xứ hoa đào...”, khiến du khách mơ về một lễ hội của loài hoa dễ thương này.

Du lcịch, GO! - Theo Phunu

Thứ Năm, 28 tháng 4, 2011

Loanh quanh Sài thành dịp 30/4

Nếu không phải là tín đồ của “phượt” để mạo hiểm, cũng không khoái theo tour vì nhiều khi quá hình thức lại thiếu chủ động, tại sao bạn không chọn các điểm du lịch quanh Sài Gòn vốn rất thú vị?

1. Du lịch bụi Long Hải

Long Hải cách Thị xã Bà Rịa chừng 10 km, thuộc địa phận tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, cách Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 100 km (chừng 2h đến 2h30 phút đi xe máy).
Đến đây, các bạn có thể đi theo 2 hướng: Hướng thứ nhất từ trung tâm thành phố - ngã 3 Vũng Tàu - chạy một mạch tới Long Hải (hướng này dễ đi hơn). Hướng thứ 2 từ trung tâm thành phố - Phà Cát Lái - khu công nghiệp Nhơn Trạch - Long Hải (hướng này thì ít xe tải hơn và nhiều khung cảnh thiên nhiên đẹp).

Long Hải có bãi biển dài và rộng, cát trắng rất phù hợp cho những người yêu thích tắm biển. Một điều thú vị là nếu các bạn mua đồ Hải Sản ngay tại chợ ở Long Hải thì sẽ vô cùng ngạc nhiên vì mức giá rẻ và độ tươi ngon của nó.

Tốt nhất nên mua đồ ăn vào lúc sáng, tầm từ 7h -> 9h (sau đó có thể đi vào khu di tích núi Minh Đạm rồi…đánh chén. Tại đây có dịch vụ nấu đồ ăn cho khách, tuy nhiên họ không bán đồ ăn mà chỉ giúp khách nấu nướng).

2. Hoang sơ cảnh đẹp Thác Mai

Thác Mai là một trong những thắng cảnh của sông La Ngà trên con đường hợp dòng với sông Đồng Nai. Đây là 1 địa danh mang vẻ đẹp hoang sơ, nằm sâu trong rừng nguyên sinh bạt ngàn, cách TP.HCM khoảng 170Km.

Thác Mai trải dài trên đoạn sông hơn 4 cây số với quần thể đá được tạo dáng với bao hình thù kỳ thú nối dài, trải rộng hai bên bờ và kết nối giữa dòng nước. Hai bên bờ sông có nhiều hang động với những hòn đá chông chênh. Muốn chiêm ngưỡng vẻ đẹp thượng nguồn của thác, du khách có thể trèo lên đỉnh Voi Phục: một hòn đá khổng lồ hình con voi đang nằm giữa sông.

Trong địa phận Lâm trường Tân Phú, trên đường vào thác Mai còn có suối Đá Bàn và có nước nóng thiên nhiên gần đó, với nhiệt độ từ 50 độ C đến 60 độ C, trữ lượng lớn, rất có lợi cho sức khỏe.

Một số lưu ý khi đi du lich Thác Mai: Đi từ TP.HCM ra ngã ba Vũng Tàu, chạy theo hướng về Biên Hoà, đi tiếp về ngã ba Dầu Giây, rồi rẽ trái theo quốc lộ 20 về Định Quán - Đồng Nai. Đi đến Km số 120, qua sông La Ngà khảng 7 - 9 Km. Bắt đầu vào địa phận huyện Định Quán sẽ có 1 cái bảng to ghi chữ Định Quán mầu xanh, phía bên tay phải sẽ thấy một con đường nhựa chạy vào trong. Chạy khoảng 5 km bạn sẽ gặp 1 nhánh rẽ ko phủ nhựa ... nếu đi thẳng thì bạn sẽ vào khu người dân tộc, còn rẽ trái theo đường nhựa là đi tiếp tới Thác Mai.

Từ quốc lộ 20 chạy vào tới Thác Mai, bạn phải đi 23 km đường xuyên rừng (khoảng 8 - 9 km là đường nhựa, còn lại là đường đất, rất bụi), chạy khoảng 10 km bạn sẽ phải mua vé vào trong với giá 10 nghìn 1 người. Ở đây, sẽ có 2 nơi để bạn đi: suối nước nóng và Thác Mai.
Khi đi Thác Mai bạn nên đi theo nhóm nhiều người vì sẽ đi trong đường rừng, vắng vẻ hoang sơ, tịnh không một bóng người. Khi về nên về sớm trước 4h vì đường rừng tắt nắng rất nhanh, nguy hiểm. Sóng điện thoại ở đây cũng rất yếu.

3. Ăn trái cây “bét nhè” tại vườn Long Khánh

Từ Thành phố Hồ Chí Minh đi theo quốc lộ 1A khoảng chừng 80 km về hướng đông bắc, qua khỏi đèo Mẹ Bồng Con là tới vùng Long Khánh (Đồng Nai).
Đến với du lịch vườn Long Khánh, du khách sẽ được tận hưởng một không gian trong lành, mắt được ngắm nhìn những sắc mầu của cây trái, mũi được ngửi mùi thơm và sẽ được nếm các hương vị ngọt ngào của những loại trái cây.

Điều thú vị nhất của du lịch vườn là du khách có thể trèo lên cây tự tay mình hái trái đem xuống cân, trả tiền và ăn thoải mái. Nếu đi thành đoàn đông người thì du khách có thể mua nguyên cả cây để ăn. Sau khi ăn no, nhà vườn có trách nhiệm cắt hết những trái còn lại cho khách đem về. Ngoài ra, các nhà vườn còn mở dịch vụ... “bao bụng”, nghĩa là bạn ăn cho đến chán chê thì thôi.

Tùy theo giá cả mỗi năm và tùy từng loại trái cây mà giá “bao bụng” khoảng chừng 20.000 đến 80.000 đồng cho một người ăn. Bên cạnh du lịch vườn, Long Khánh còn có những điểm tham quan hấp dẫn mà bạn có thể ghé thăm. Đó là Khu Văn hóa Suối Tre, mộ cổ Hàng Gòn, tượng đài chiến thắng Long Khánh...

Khu Văn hóa Suối Tre nằm cách thị trấn Xuân Lộc, huyện Long Khánh chừng 3 km về hướng tây bắc. Nơi đây vốn là nơi nghỉ mát của người Pháp, thuộc các đồn điền cao su SIPH được xây dựng từ đầu thế kỷ 20. Suối Tre ở giữa những cánh rừng cao su mát dịu, xen lẫn là những ngọn đồi nhấp nhô và cả những cổ thụ xòe tán, khiến nơi đây có cảnh quan như một Đà Lạt thu nhỏ, gợi nên nét đẹp riêng.

Từ thị trấn Xuân Lộc ngược về phía tây nam khoảng chừng 5 km là đến một di tích kiến trúc cổ, mang dấu ấn lịch sử hình thành và phát triển vùng đất phương Nam, đó là ngôi mộ cổ Hàng Gòn (còn gọi là mộ Cự Thạch, hay mả Ông Đá).
Đây là một kiến trúc độc đáo nằm trong lòng đất, có niên đại cách đây hơn 2.500 năm. Ngôi mộ được phát hiện vào năm 1927 và được trùng tu vào năm 1992. Di tích là một hầm mộ được làm bởi những tấm đá hoa cương lớn, lắp ghép theo hình hộp chữ nhật, chiều dài 4,2m, ngang 2,7m, cao 1,6m, bề mặt được bào khá nhẵn.

Bốn tấm đá thẳng đứng dùng làm vách, hai tấm nằm ngang dùng làm mặt đáy và nắp đậy. Liên kết giữa các tấm đá nhờ vào hệ thống rãnh dọc, trông đơn giản nhưng thật vững chắc. Chung quanh mộ có nhiều trụ đá hoa cương cao 7,5m, đầu khoét lõm hình yên ngựa.

4. Tắm suốt khoáng Bình Châu, Hồ Cốc

Đây là khu du lịch với những cảnh quan sinh thái tuyệt đẹp. Giữa ngút ngàn rừng nguyên sinh nổi lên một bầu nước nóng với 70 điểm phun lộ thiên hình thành một hệ thống sông suối từ 37 độ C đến 82 độ toả nhiệt quanh năm. Trong nguồn nước này chứa nhiều chất như silic, nitơ, lưu huỳnh, natri, clo có tác dụng chữa bệnh.

Khu du lịch suối khoáng Bình Châu nằm cách TP. Hồ Chí Minh 150 km. Đi xe máy mất khoảng đi từ 3 - 4 tiếng. Có thể đi từ TP. Hồ Chí Minh theo Quốc lộ 51 khoảng 100 km du khách sẽ xuống đến Thị xã Bà Rịa.

Từ đây rẽ trái theo hướng Quốc lộ 55 khoảng 55 km, du khách sẽ đến khu du lịch sinh thái Bình Châu thuộc xã Bưng Riềng, huyện Xuyên Mộc. Bạn sẽ mất khoảng 150.000đ (tiền xăng đi và về).

Đi bằng xe du lịch: 2 tiếng rưỡi đến 3 tiếng. Xe Mai linh: Khởi hành từ bến xe miền Đông đến bến xe khách Vũng Tàu, giá vé: 60.000đ/người.

Xe Kumho Samco: Khởi hành từ Bến xe Miền Đông đến bến xe khách Vũng Tàu. Giá vé: 70.000đ/người (cập nhật 2/3/2011). Ngoài ra, bạn có thể mua vé tại bến xe Miền Đông để đi Xuyên Mộc. Xe sẽ dừng tại bến xe huyện Xuyên Mộc (Thị trấn Phước Bửu).

Từ đây, bạn có thể bắt xe buýt đi Bình Châu, đi xe ôm hoặc có thể liên lạc với dịch vụ đưa đón (có thu phí) của khu du lịch bạn lưu trú. Xe buýt đi Bình Châu có đi ngang qua ngã ba vào Hồ Cốc chứ không đi vào Hồ Cốc (từ ngã ba đi vào Hồ Cốc khoảng 8km).

Bằng tàu cánh ngầm: 1 tiếng 20 phút. Khởi hành từ Bạch Đằng và dừng tại bến tàu Cầu Đá - Vũng Tàu. Giá vé: Một chiều: 250.000đ/người - Khứ hồi: 450.000đ/người (cập nhật 14/2/2011). Từ Vũng Tàu bạn có thể bắt xe buýt đi Bình Châu. Tất cả các tuyến xe du lịch đều đến bến xe khách Vũng Tàu từ Vũng Tàu có thể bắt xe buýt đi Bình Châu (Xuyên Mộc). Giá: 25.000đ/vé (suốt tuyến).

5. Khám phá đảo Ó - Ðồng Trường

Ðảo Ó và đảo Ðồng Trường là hai hòn đảo nằm giữa lòng hồ Trị An (huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Ðồng Nai). Ðó là một điểm du lịch sinh thái hấp dẫn bởi sông nước, rừng, cây, hoa lá, đặc sản tuyệt vời.

Từ TP.HCM, theo quốc lộ 1A hướng về Ðồng Nai, đến ngã ba Trị An thì rẽ trái, đi 8km nữa đến trung tâm thị trấn Vĩnh An (huyện lỵ Vĩnh Cửu) rồi đến bến thuyền Ðồng Trường. Sau 30 phút thưởng thức thú ngồi thuyền rong chơi trên hồ Trị An, bạn sẽ đặt chân lên đảo Ó.

Nằm giữa lòng hồ, cách đất liền không xa, nhưng đảo Ó như một ốc đảo tách biệt. Ở đây có một máng trượt nước cao 15 mét cho những ai thích tìm cảm giác mạnh. Ngoài ra, còn có các trò vui chơi như đi ca nô, mô tô nước, phóng phi tiêu, đánh cờ... Tại đây có đặc sản: cá lăng nấu canh chua và cá lăng kho tộ. Cá lăng tươi chong mới bắt lên từ hồ Trị An, thịt thơm, ngọt và béo.

Du lịch,GO! - Theo Vietnamnet

Chiêng Tha: Vật thiêng của người Brâu ở Tây Nguyên

Trong đời sống tinh thần của người Brâu (còn gọi là người Brao), chiêng Tha là một biểu tượng tinh thần, quyền uy tối linh. Người Brâu quan niệm, mỗi khi chiêng Tha lên tiếng sẽ mang đến những điều tốt lành, hạnh phúc cho cộng đồng.

Brâu là một trong sáu dân tộc thiểu số có số người ít nhất ở Việt Nam hiện nay. Dân tộc này hiện có khoảng 81 hộ với 390 nhân khẩu - có ngôn ngữ Môn - Khmer, sống tập trung ở làng Đắc Mế, xã Bờ Y huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum, ở khu vực ngã ba biên giới Việt Nam - Lào - Cam-pu-chia. Người Brâu có truyền thống du canh du cư. Họ chủ yếu đốt rừng làm rẫy để trồng các loại lúa, ngô, sắn, với công cụ sản xuất thô sơ như: rìu, rựa và chiếc gậy chọc lỗ tra hạt; năng suất cây trồng thấp. Trong đời sống tinh thần của người Brâu, chiêng Tha là một biểu tượng tinh thần, quyền uy tối linh.

Chiêng tha chỉ có hai chiếc, gồm Chuar (Vợ) và Jơliêng (Chồng). Cả hai đều không có núm (chiêng bằng), có kích cỡ khác nhau (Jơliêng to và dày hơn Chuar).

Người Brâu coi chiêng Tha là "vật chủ" thông linh giữa thế giới phàm tục của con người và thế giới các thần trên cao. Bởi vậy khi có lễ trọng trong làng, người Brâu mới tổ chức “mời” Tha về. Người Brâu không nói đánh chiêng như các dân tộc khác ở Tây Nguyên, mà gọi là “gọh Tha”, tức mời Tha nói. Người đứng ra mời là già làng hoặc người được cả làng tôn vinh, đảm nhiệm vai trò chủ lễ. Lễ “ Gọh Tha”  to hoặc nhỏ tùy thuộc vào điều kiện kinh tế của làng, nhưng ít nhất cũng phải là một ché rượu và một con gà. Chủ lễ cắt tiết gà rồi xoa vào lòng chiêng theo vòng tròn nhiều lần, rót rượu đầu ghè “mời” chiêng uống, và khấn thần linh bốn phương. Khấn xong, hai nghệ nhân mới vào thực hiện việc “ mời Tha nói”. Phong tục - Văn hóa VN

  Your Ad Here

Khi diễn tấu, hai chiêng được treo lên theo hướng úp vào nhau, cách mặt đất khoảng chừng 15 đến 20 cm. Cách diễn tấu chiêng Tha được coi là độc nhất vô nhị so với các loại cồng chiêng khác ở Tây Nguyên. Người Brâu gọi dùi đánh chiêng Chồng (Jơ liêng) là dùi Đực, dùi đánh chiêng Vợ (Chuar) là dùi Cái. Người đánh dùi Cái thúc âm ở mặt chiêng, còn người đánh dùi Đực thúc dùi vào lòng chiêng. Họ ngồi bệt xuống đất, hai chân duỗi thẳng, bàn chân nâng áp sát thành chiêng để ngắt tiếng, tạo âm sắc cho chiêng. Khi diễn tấu bao giờ chiêng vợ cũng lên tiếng trước, khi nhập được vào tiết tấu rồi chiêng chồng mới tham gia. Chiêng Tha nổi lên một, hai bài thì các chiêng khác mới được vào cuộc.

Theo các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian thì chiêng Tha là một trong những loại chiêng cổ nhất ở Tây Nguyên. Người Brâu coi chiêng Tha là chiêng thiêng, như vật “ Gia bảo”. Bởi vậy rất ít khi chiêng Tha được mang ra khỏi cộng đồng làng. Tuy nhiên, do tính độc đáo của chiêng Tha, nên các nhà làm công tác văn hóa đã thuyết phục già làng Brâu để chiêng Tha tham gia các lễ hội cồng chiêng lớn của tỉnh cũng như ở khu vực.

Người Brâu quan niệm, mỗi khi chiêng Tha lên tiếng sẽ mang đến những điều tốt lành, hạnh phúc cho cộng đồng. Tham dự Lễ hội lần này, người Brâu mong muốn sẽ góp phần tạo thêm sự phong phú và thành công rực rỡ cho lễ hội, và cũng là để giới thiệu chiêng Tha với bạn bè các dân tộc trên mọi miền đất nước.

Du lịch, GO! Tổng hợp theo Đèn Thần + internet