Hiển thị các bài đăng có nhãn Làng nghề. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Làng nghề. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 20 tháng 7, 2011

Hồn đất Thanh Hà

Nhớ hồi năm 2009, trong lễ hội “Hành trình di sản lần thứ IV”, TP. Hội An đã chọn sản phẩm ống đèn đường của làng gốm Thanh Hà để trang trí khắp nơi. Hình ảnh đó góp phần tôn vinh vẻ đẹp độc đáo của đô thị cổ và thương hiệu làng gốm Thanh Hà, vốn nổi tiếng từ hơn 500 năm trước.

Đến phố cổ Hội An, hỏi làng gốm Thanh Hà, ai cũng biết. Ngôi làng nhỏ bé nằm ở phường Thanh Hà, cách khu phố cổ chừng 3km về phía tây. Xét lịch sử tồn tại hơn 500 năm của vùng đất Quảng Nam, Thanh Hà là làng nghề cổ nhất còn đến bây giờ.

Trong cái nắng hanh hao vàng nhạt đầu tháng Tư, ấn tượng đầu tiên khi tôi vừa đặt chân đến làng là nét cổ kính và thanh bình. Từ con đường làng quanh co, những mảnh vườn xanh um đến những bức tường gạch cũ, những mái ngói rêu phong.

Hồn quê Việt xưa như vẫn quyện trong những nếp nhà mộc mạc. Dù nhiều địa phương đã hiện đại hóa nghề gốm với lò điện, với dây chuyền tiên tiến, người Thanh Hà vẫn làm gốm theo đúng kiểu truyền thống với chiếc bàn xoay và đôi tay khéo léo.

Cả làng hiện có khoảng hai chục hộ sản xuất gốm với trên 100 nhân khẩu, đa phần sống với nghề gốm từ rất lâu đời. Họ kể rằng, vào thế kỷ XIV - XVII, những người thợ thủ công từ Thanh Hóa vào Thanh Hà lập làng, mang theo nghề gốm và truyền lại cho con cháu đến ngày nay. Dưới triều Nguyễn, những người thợ gốm Thanh Hà đã nức tiếng tài hoa. Chính họ đã cung cấp những sản phẩm như ngói lợp, gạch lát nền, đồ gia dụng cho các ngôi nhà cổ Hội An và những khu vực lân cận.
Nhưng giai đoạn hoàng kim ấy rồi cũng qua, thời kinh tế thị trường, gốm Thanh Hà gặp nhiều khó khăn khi không đọ sức kịp những sản phẩm theo công nghệ mới, không tìm được đầu ra. Một số hộ đã bỏ nghề, vào Nam tìm kế sinh nhai. Mãi đến những năm gần đây, khi gốm Thanh Hà trở thành một phần trong các tour khám phá, trải nghiệm của du khách tới Hội An, các lò gốm mới đỏ lửa trở lại.

Tôi lang thang trên đường làng quanh co, rộng chỉ chừng sải tay, ghé nhìn những sân phơi gốm, tò mò như một đứa trẻ, sờ tay vào những sản phẩm gốm đang phơi mình trong nắng. Những chiếc siêu thuốc Bắc, những cái nồi kho cá, những cái trã đất ủ than… đơn sơ, mộc mạc, gợi nhớ về một nông thôn xưa cũ.

Lần theo con đường quanh làng, tôi ghé thăm nhà trưng bày gốm của nghệ nhân “lão làng” Lê Thị Chiến (80 tuổi) - người được Ban tổ chức festival gốm sứ Việt Nam - Bình Dương 2010 trao tặng danh hiệu “Nghệ nhân làng gốm Thanh Hà”.

Bà Chiến vào nghề từ thời con gái, đến nay đã hơn 65 năm tuổi nghề. Thợ trong làng hiện nay hầu hết là học trò của bà. Trong khuôn viên rộng 200m2, khu trưng bày khá khang trang với phong phú chủng loại gốm. Nhiều nhất là các loại tò he với đủ 12 con giáp, bùng binh (heo đất), kế đến là những bình hoa, bình rượu, ấm trà, chén, bát, nồi niêu, chum, vại, chậu kiểng, đèn gốm…

Theo bà Chiến, tất cả sản phẩm trên được làm từ nguyên liệu đất sét, lấy từ mỏ đất, mỏ cát do phù sa sông Thu Bồn tạo nên. Người trong làng phải lên các huyện Điện Bàn, Duy Xuyên, Đại Lộc mua về với giá vài trăm ngàn đồng một ghe. Để làm ra sản phẩm đạt chất lượng cũng lắm công phu, nhiều vất vả, đòi hỏi người thợ sự cần mẫn và óc thẩm mỹ. Trước khi tạo ra sản phẩm, đất sét phải đập nhỏ, sau đó đất được rưới nước vừa phải rồi trùm ủ để giữ độ ẩm. Ngày hôm sau, đất được trộn với cát mịn nhào nhuyễn. Thợ gốm sẽ đánh cho đất thật dẻo rồi mới nặn.

Sau khi nặn thành sản phẩm, phải đem phơi nắng một ngày, rồi đem vào trong bóng mát làm nguội để trang trí hoa văn, họa tiết, cuối cùng mới đưa vào lò nung với nhiệt độ khoảng hơn 1.000oC trong vòng 24 giờ. Khi chín tới, gốm sẽ có những màu đặc trưng như vàng đỏ, đỏ hồng, gạch nâu, đen tuyền. Gốm Thanh Hà có độ bền cao và láng chẳng khác gì tráng men. Sản phẩm lại nhẹ, khi ta gõ vào thành gốm, những âm thanh rất trong, êm ái vang lên.

Khách du lịch đến Thanh Hà thường say mê ngắm các nghệ nhân xoay, nắn, tạo hình gốm với những thao tác kỹ thuật nhuần nhuyễn, đẹp mắt. Đôi bàn tay đen gầy của bà Chiến lấm lem đất sét, vê nhịp nhàng, thoăn thoắt biến khối đất sét vuông thành chiếc bình, rồi chẳng mấy chốc miệng bình loe ra điệu đàng. Sau đó, bà cầm cái nẹp tre dẹt, chà ép cho trơn láng đế bình. Chỉ trong vòng 5 phút, bà đã hoàn thành chiếc bình hoa đẹp mắt chỉ bằng đôi tay khéo léo.

Rời làng Thanh Hà ra về, du khách nào cũng nâng niu trên tay vài sản phẩm gốm tươi màu đất, hồn đất. Không cầu kỳ, chẳng trau chuốt, gốm Thanh Hà cũng hồn hậu và chân chất như tấm lòng người Quảng.

Du lịch, GO! - Theo PNCN, internet

Thứ Hai, 18 tháng 7, 2011

Làng tranh Ðông Hồ

Tranh Ðông Hồ có từ thời Lê, thuộc xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, Hà Bắc.Theo câu thơ của thi sĩ Hoàng Cầm "Anh đưa em về bên kia sông Ðuống...", đến thị xã Bắc Ninh ngày xưa đây là đất dừng chân của cánh buôn tranh Ðông Hồ,nay chỉ giản đơn là đất dừng chân của người đợi qua phà Hồ.

Dù ai buôn bán trăm nghề
Nhớ đến tháng chạp thì về buôn tranh...

Dịp đó các ngày 6, 11, 16, 21, 26, chợ tranh họp 5 phiên trong tháng duy nhất của năm-tháng chạp. Chợ chỉ họp và bán tranh sau khi các gia đình đã sửa lễ cúng thánh.
Tranh đẹp hay không đẹp đều chỉ nhất loạt giữ giá một, người sành chơi có thể tuỳ ý lựa chọn. Không khí Tết chộn rộn không chỉ ở cảnh kẻ bán người mua tấp nập, mà cả bởi vẻ rực rỡ, sắc màu t­ơi rói cử những bộ tứ bình, Thạch Sanh, những gà, lợn, mèo, chuột, ngựa...

Có thể nói, cái đặc biệt của tranh Ðông Hồ là ở chỗ đó. Tranh dân gian Hàng Trống, Kim Hoàng, Huế ... không thể có sắc màu muôn hồng ngàn tía của tranh Ðông Hồ, cũng không thể có nền giáy điệp quyến rũ đó.
Ngời sành tranh Ðông Hồ chính bởi chất dân gian chứa đựng trong tờ tranh nền giấy điệp trắng ngà, lướt nhẹ lượt hoà vàng hay vang đỏ, không khỏi chạnh lòng nhớ tranh Ðông Hồ ngày xưa

Ở cái làng nghèo mà hào hoa như làng tranh Đông Hồ trước đây thường truyền nhau câu ca "Làng Mái có lịch có lề - Có sông tắm mát, có nghề làm tranh" và "Lịch sử cũng thế Đông Hồ". Không khí sầm uất vào cữ một chạp, các thuyền từ xứ Đôn xứ Đoài ghé bến "ăn tranh". Người làng tranh trước ở ngoài đê vào mùa vụ làm tranh cũng phải một sương hai nắng tất bật khuya sớm. Thôi thì chỗ này rậm rịch tiếng chày giã điệp, chỗ nọ dỡ ván in tranh cọ rửa lau chùi sạch sẽ. Khói đốt than lá tre ẩn hiện la đà trên các ngọn cây. Làng Đông Hồ ruộng đất ít, từ cụ già đến con trẻ  đều mê và nghiện trà đặc.

Thuốc lào Tiên Lãng và chè móc câu Thái Nguyên là thứ không thể thiếu được trong các đêm làm tranh. Tiếng rít thuốc lào sòng sọc nghe vui tai, nước trà đặc sánh, làm cho đầu óc minh mẫn, tỉnh táo khiến cho nét vẽ, màu vẻ thêm sống động, có hồn có vía. Nhất là nết ăn, nết ở của người lang tranh hào hoa có vẻ hơi cầu kỳ nhưng bao giờ cũng trọng chữ tín và nghĩa tình trong quan hệ xóm giềng. Không biết tự bao giờ đã thành lệ, các cụ làng Đông Hồ được mời đi ăn cổ làng bên chỉ đụng đũa đụng bát cho phải phép, ở nhà vẫn lo cơm canh cất dọn đàng hoàng.

Rượu chỉ uống chén hạt mít, ăn cũng chỉ qua loa dăm miếng thịt là các cụ đứng dậy xin phép gia chủ ra về. Khi có khách xa đến được mời cơm, gia chủ hân hạnh ngồi đầu nồi xới cơm, không đụng đũa cả vào cạng nồi cơm. Người sắp mâm thiếu thức gì biết ý phải đi lấy, không để khách phải g ọi, nếu để sơ suất dễ bị nói! Ngay ông Nguyễn Đăng Sấn được mời ra trường Mỹ thuật Việt Nam giới thiệu cho lớp sinh viên về dòng tranh Đông Hồ, ngay phút lâm chung ông cũng yêu cầu di hài mai táng tại quê nhà nơi ông gắn bó với làng tranh một đời. Và ông Sần nhất định đòi cậu con trai chuyển bằng được bộ sưu tập ông đã dầy công sưu tầm cho anh Trần Nhật Tấn người trong họ như muốn truyền lại cái tinh hoa của dòng tranh Đông Hồ đến người tâm huyết:

"Chỉ có cậu Tấn mới có khả năng tiếp thu được, tôi cho cậu để phát huy cái hay, cái đẹp của dòng tranh ông cha để lại" Nghĩ kể cũng lạ, bất cứ người làng Hồ đi làm ăn xa về xin ván tranh khắc, các cụ nghệ nhân trong làng nhất định không cho. Ngay cả dân làng Hồ chuyên sản xuất tranh nhưng chẳng bao giờ treo trong nhà mà đem bàn hoặc cho thiên hạ hết. Người làng ra Hà Nội sinh sống làm ăn tập trung quanh chợ Đồng Xuân làm lại nghề lâu rồi và do đó quen gọi là phố Hàng Mã. Mà cũng chỉ làm hàng mã thật chứ tịnh không thấy sản xuất tranh như ở làng Đông Hồ.

Nghề làm tranh trong làng rất được trọng vọng; ai có hoa tay, có thú chơi cầm, kỳ, thi, họa đều được mọi người vị nể (cũng là theo cái thú tao nhã của nhà nho xưa). Làng tranh cũng trải qua biết bao nhiêu thăng trầm. Các cụ nghệ nhân trong làng kể lại: Hồi Pháp thuộc, người ở nhà Bác Cổ thỉnh thoảng lại đánh xe ô tô về mua tranh, thậm chí mua cả bản khắc tranh nữa! Nhà cụ Lử có bản khắc tranh gà rất quý đưa đi đóng cửa chuồng gà, người Pháp phát hiện ra hỏi mua cụ bán liền. Nghĩ mà tiếc đứt ruột!

Lại còn nhớ cái thuở Tây càn, dân làng Hồ chạy loạn, binh lửa chiến tranh liên miên và cái khí hậu ẩm ướt khắc nghiệt của thiên nhiên miền Bắc, ván khắc tranh bị hỏng và thất lạc khá nhiều. Bản gốc tranh Đánh ghen, Gà đại cát, lợn ăn lá dày... cũng không còn nữa. Sau ngày Hòa Bình lập lại thấy trên báo Pháp có in tranh dân gian làng Hồ, Chính phủ ta phải liên hệ với Đảng Cộng sản Pháp xin cho khắc lại ván tranh để bảo tồn.

Tranh Đông Hồ có một dạo lên đến điểm "cực thịnh", đã từng sáng giá trong các triển lãm nghệ thuật lớn ở các nước trên thế giới với nét vẽ nhuần nhụy, tươi tắn như hồn người đất Việt. Bà con Việt kiều khi về nước cũng phải tìm mua bằng được những "bức tranh làng Hồ và cô Tố Nữ dáng quê hương" (Thơ Chế Lan Viên) để khi ở xa quê trong sương mù Luân Đôn hay cái giá lạnh của Pa-ri hoa lệ, cảm thấy ấm lòng ở chốn tha hương.

Thực trạng của làng tranh bây giờ ra sao? Cũng khó tìm ra được lời giải đáp cụ thể nếu Nhà nước không đứng ra đầu tư và tiêu thụ. Có một dạo Xuhasaba (Hà Nội) nhận đặt và xuất khẩu với số lượng tranh lớn cũng làm nức lòng người dân nơi đây vì giá thành tranh không đắt lắm. Nhu cầu vài năm gần đây thay đổi, cứ mạnh ai nấy làm. Người làng tranh bây giờ nảy sinh tâm lý: ai đặt thì làm, nhiều khi với số lượng tranh quá ít cũng không muốn làm. Thi thoảng lắm cũng có nơi về làng tranh đặt vài nghìn tờ, không sản xuất được thường xuyên nên cũng khó tổ chức sản xuất tranh được đều đặn trong năm, ảnh hưởng đến thu nhập của người làm tranh.

Các nghệ nhân như cụ Thúc, ông Sâm, ông Lăng... có tay nghề cao và kinh nghiệm, đều mắt mỏi tay run hoặc dần dần khuất núi cả. Lại nhớ đến ông Lý Lăng, hơn mười năm trước tôi và anh bạn về thăm ông trong ngôi nhà tranh bốn gian tường vách tranh đạm. Ông là nghệ nhân vẽ mẫu tranh nổi tiếng làng Đông Hồ theo kinh nghiệm. Nghĩa là vừa làm vừa học... Cứ bắt chước, cứ học hỏi dần. Nhà này nhờ vẽ mẫu tranh này, nhà khác gọi giúp mẫu tranh khác...

Cũng là tình xóm giềng, ông chẳng tiếc sức, tiếc công! Ngoài việc sáng tác mẫu tranh, ông còn truyền đạt kinh nghiệm nghề nghiệp của mình cho lớp trẻ học hỏi. Chẳng hiểu bây giờ còn bao nhiêu người cụ đã truyền nghề cho, "trụ lại" được với nghề trước thủ thách của cơ chế thị trường khắc nghiệt, nhất là đối với một dòng tranh như dòng tranh Đông Hồ...

Dẫu người làng tranh có làm tranh đi nữa cũng phải chạy theo thị trường, nghĩa là khi pha màu chủ yếu là bột goát để giá thành được rẻ... Còn đâu như thủa nào tranh làng Hồ giữ nguyên được sắc màu tươi tắn, nhuần nhụy của các màu lấy từ... cây vườn, nội cỏ! Họa chăng tranh làng Hồ còn giữ được sắc thái tự nhiên (theo nguyên nghĩa của từ này) chỉ còn được chiêm ngưỡng ở Viện bảo tàng và các sưu tập tư nhân mà thôi! Mà sức sống của tranh dân gian này chủ yếu phản ánh tâm tư nguyện vọng của người lao động. "Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp", một nhà thơ xứ Bắc đã từng viết như thế.

Chỉ cần vài tờ tranh cuộn lại bên cạnh nải quả cúng tổ tiên và dán treo trên vách nứa tường tre cũng làm nhẹ nhõm thư thái lòng người khi tết đến và nguôi đi nổi nhọc nhằn cấy hái trên đồng ruộng! Đấy là chưa kể những khu du lịch ở khắp đất nước ta nếu tiêu thụ được cũng là có dịp để giới thiệu cho bạn bè năm châu thấy cái hay, cái đẹp của tranh dân gian, phần nào góp phần xây dựng đời sống văn hóa trên cơ sở tìm về cội nguồn dân tộc.

Bây giờ ở làng tranh Đông Hồ này có lẽ hiếm có ai lại mê vẽ như anh Trần Nhật Tấn. Thới buổi của cơ chế thị trường, hầu như cả làng đổ xô vào làm hàng mã, cũng vốn là "mặt hàng" truyền thống trước đây. Thôi thì đủ loại: hoa tai, đồng hồ, nhà táng, hon-da, "cúp" giấy. Rẻ cũng mươi đồng, đắt cũng đến hàng trăm nghìn... tùy theo nhu cầu người đặt mua. Làng thường giao cho người bán buôn đi Hà Nội.Còn tranh Đông Hồ một thời nổi tiếng của dòng tranh xứ Bắc, kỹ thuật công phu, giấy đắt, đủ các loại màu lấy từ chất liệu tự nhiên, tiêu thụ lại khó. Người sành tranh lắm băy giờ mới dám chơi tranh Đông Hồ, chứ không như ngày nào tranh bày bán trên mẹt quê khắp các chợ Phủ Thuận và ở nhiều nơi khác.

Dạo qua các hè phố cứ thấy tranh Tàu, tranh Thái bày treo la liệt trên các quầy sách báo và văn hóa phẩm như lấn áp người xem, người mua. Lâu rồi chúng tôi mới có dịp trở lại làng Đông Hồ, thăm anh Tấn, quanh cảnh xóm thôn nghe chừnh đổi khác nhưng nét chân tình trong con người anh vẫn như xưa.

Vẫn giọng nói hồ hởi khi anh nói về tranh và lật giở tờng tranh cho chúng tôi xem, nghe anh giảng giải kỹ thuật vẽ tranh mới càng thấy biết bao công phu trong nghề. Có hôm trời nắng nóng độ khô ẩm tăng phải gia giảm màu cho phù hợp với độ xốp của tranh. Quấy hồ đặc quá, giấy cong vênh như bánh đa quá lửa, không in tranh được...

Rồi kỹ thuật khắc ván tranh, chế tạo màu từ lá tre, rỉ đồng, hoa hòe, vỏ điệp... Anh Tấn tâm sự: "Nhà đông, tôi cũng phải cho các cháu làm thêm hàng mã để sống. Nhưng mình không l à m tranh nữa mà để mai một dòng tranh thì thật tuổi hổ với ông cha, các anh ạ! nhiều khi tôi dành hẳn một gian buồng trong nhà để sáng tác mẫu tranh. Gian ngoài cho các cháu làm hàng khỏi bề bộn và đỡ bận tâm đến không khí sáng tác của mình. Kinh tế gia đình từ những năm kinh tế cũng đỡ nên tôi cũng có điều kiện vẽ tranh hơn".

Do chịu khó học hỏi và yêu nghề làm tranh dân gian, anh Tấn được các cụ nghệ nhân trong làng "truyền nghề"cho. Các loại tranh in ván, tranh khắc, trổ lé... anh đều nắm vững và xử lý kỹ thuật làm tranh thuần thục. Những năm trước anh Tấn đã được tín nhiệm phụ trách tổ làm tranh Đông Hồ gia công cho Nhà nước theo chủ trương phụ hồi dòng tranh dân gian. Các nhà nghiên cứu nghệ thuật Vương Như Chiêm, Chu Quang Trứ, khi về Đông Hồ đều tìm đến anh Tấn để hiểu ngọn ngành của dòng tranh "độc nhất vô nhị " này...

Nhiều đoàn khách nước ngoài: Nhật, Tiệp, Thụy Điển, I-ta-li-a, Mỹ, Đức... qua sự trình bày của anh Tấn đều viết bài ca ngợi vẻ đẹp của làng tranh với sức sáng tạo dồi dào của các nghệ nhân trên các báo và tạp chí nổi tiếng của thế gjới. Anh Tấn đã sáng tác hàng trăm tranh, có nhiều tranh chưa đưa ra xuất bản, biểu hiện công phu tìm tòi xử lý chất lượng trong tranh dân gian. Các tranh "Bắt sống giặc lái Mỹ", "Bác Hồ về thăm làng" đã được bảo tàng mỹ thuật Việt Nam bày treo trang trọng và in trong các vựng tập là niềm vui của anh trên đường tìm về với những giá trị văn hóa dân tộc.

Nét say mê nghệ thuật ấy chưa bao giờ giảm, mặc dù anh sắp vào tuổi sáu mươi. Anh vẫn cất công ra các phố phường Hà Nội để sưu tầm bộ tranh Bát tiên và Tố nữ cổ mà lâu nay thất lạc. Có lẽ mong muốn hơn cả trong anh là tỉ nh Hà Bắc và Bộ Văn hóa thông tin sớm ra đời Trung tâm tranh Đông Hồ để khôi phục và phát triển dòng tranh dân gian đang có nguy cơ bị mai một.

Du lịch, GO! - Theo CGTĐT Bắc Ninh, ảnh internet

Thứ Bảy, 16 tháng 7, 2011

Giữa thời hiện đại ai chằm áo tơi...

Theo câu ca tôi tìm về Yên Lạc, Quang Lộc, Can Lộc (Hà Tĩnh) tìm hiểu về làng tơi duy nhất ở vùng “ chảo lửa, túi mưa” để giải đáp băn khoăn: Giữa thời công nghệ polymer hiện đại, áo bạt, áo ni lông đủ kiểu, ô tím, xanh, vàng đỏ đủ sắc màu, thì áo tơi có đã là bảo tàng, là câu chuyện cổ tích xa xưa!?

Phận tơi

Nhưng tôi đã nhầm. Quần tụ quanh dãy đồi bát úp, nép vào dưới rặng tre xanh, làng tơi Yên Lạc vẫn tồn tại qua năm tháng, bất chấp thị trường chao đảo, bất chấp dè bỉu của “mốt” hiện đại vẫn lặng lẽ âm thầm bảo lưu một làng nghề truyền thống đã gắn bó lâu đời với mảnh đất cha ông.
“ Còn nắng, còn mưa, thì còn tơi”, ông Đặng Văn Đức (80 tuổi) khẳng định. Cũng nắng, mưa, nhưng nắng mưa ở dải đất hẹp miền trung khủng khiếp. Nắng quăn tàu cau. Đất quăn diệp cày. Ruộng đồng nứt nẻ. Mênh mông bạc trắng. Lại thêm gió Lào táp lửa vào mặt. Mưa thì thối đất, mưa chém vào mặt, quất vào da thịt.

Bao đời nay vẫn thế!

Giữa đồng không mông quạnh, nón, mũ, ni lông không thể che đậy thịt da. Chỉ có cái tơi mới là “áo giáp lá” chống lại mưa nắng nghiệt ngã thất thường.
Khi ti vi truyên hình quảng cáo kem dưỡng da, chống nắng… thì ở Yên Lạc nói riêng và xứ sở miền trung nói chung nhân dân tự tạo ra một “vũ khí” tiện lợi là chiếc tơi.

Người làng Yên Lạc không biết nghề chằm tơi có từ bao giờ. Chỉ biết rằng tơi là một phần cuộc sống tất yếu của người dân nơi đây.
Ông Đặng Văn Quang – Xóm trưởng xóm Yên Lạc cho biết: “ Xóm Yên Lạc có 78 / 180 hộ , thu hút trên 200 lao động ngoài độ tuổi làm nghề chằm tơi. Trung bình mỗi năm sản xuất 20.000 chiếc tơi và tạo một nguồn thu nhập gần 500 triệu đồng / mùa”.

Nghề tơi lấy công làm lời. Lá tơi, dây mây lấy ở Truông Bát (Hương Khê). Dụng cụ chỉ có một bàn tơi đắp bằng đất hay ken bằng gỗ. Một chiếc kim sắt uốn cong dài 35cm, dăm sợi dây, nuộc lạt là có thể hành nghề. Nghề chằm tơi ai cũng làm được miễn là chăm chỉ và kiên trì. Đàn ông, đàn bà, con gái, con trai, tranh thủ nông nhàn có thể chằm tơi để tạo nên nguồn thu nhập.
Buổi trưa không ngủ, đưa bàn tơi ra ken lá. Buổi tối vừa uống nước vừa trò chuyện vừa chằm tơi. Các cháu học sinh, sau buổi học về nhà, mỗi buổi chằm dăm chiếc tơi cũng tự giải quyết được tiền sách, vở bút giấy.

Nói thế, nhưng không đơn giản thế! Lá tơi trên rừng, nhưng mang được về Yên Lạc mất một ngày. Sáng tinh mơ, cơm gói, cơm đùm vào rừng. Tối mịt mới về. “ Lấy lá xong, chúng tôi đốt lửa thui qua cho héo, rồi chở về. Về phải phơi sương qua đêm để lá được ngậm sương. Lá tơi gặp nắng mới thơm, mới bền. Nếu không gặp nắng thì lá úng, bợt, dễ mục. Lá ngậm sương đưa ra vuốt, xếp mới không quăn ”. Ông Nguyên Đăng Nhuận (65 tuổi) cho biết.

Chúng tôi đến nhà anh Đặng Văn Quang (46 tuổi), giữa lúc các cháu đang chằm tơi.

Cháu Đặng Thị Quỳnh (Lớp 12), Đặng Thị Nga (lớp 11), Đặng Thị Giang (lớp 5) cháu nào cũng đạt học sinh tiên tiến. Đặc biệt cháu Giang năm học 2010-2011 đạt HSG. Các cháu được tặng rất nhiều giấy khen. Cháu Quỳnh cho biết: “ Để chằm một cái tơi mất hơn một tiếng đồng hồ. Trong chằm tơi khó nhất là gấp cổ, làm sao khít, bền, chặt và phải đẹp. Mùa tơi vừa rồi mấy chị em cháu chằm được hơn một trăm chiếc. Cũng đủ trang trải tiền học”.

Mỗi năm mùa tơi ở Yên Lạc chỉ có 2 tháng: Tháng 3 và tháng 4. Những tháng đó, sân ngõ phơi đầy lá tơi. Chiều chiều, những chiếc xe của người đi lấy lá tơi nối đuôi nhau về làng. Tối tối, xóm làng lại vào mùa sản xuất. Tơi sản xuất xong, khách ở Kỳ Anh, Cẩm Xuyên, Thạch Hà, Can Lộc, Nghi Xuân, Đức Thọ đến lấy. Cũng có khi mang bán ở chợ Nhe, chợ Tổng, chợ Chùa và các chợ lân cận.

Năm nay, tơi được giá, mỗi chiếc từ 35 đến 40 ngàn đồng. Gia đình Chị Nguyễn Thị Thanh, gia đình anh Đặng Văn Quang chằm, bán được 700 chiếc thu về hơn hai chục triệu đồng. Cũng là một nguồn thu giải quyết được nhiều vấn đề của đời sống. “ Tiền giống má, nước, thuốc trừ sâu, máy bơm, tiền học của con trông chờ vào đó cả chú ạ”. Anh Quang cho biết.

Nhưng điều lạ là những cô gái làng Yên Lạc lấy chồng làng khác, không mang theo nghề; ngược lại các cô gái về làm dâu Yên Lạc lại học nghề, giữ nghề. Chắc là do Yên Lạc đất hẹp, người đông? Hay do Yên Lạc xa núi, xa sông không được thiên nhiên ban tặng những thuân lợi khác phải bám lấy nghề để tạo nguồn thu nhập ổn định cuộc sống? Hay do nhân dân Yên Lạc chăm chỉ cần mẫn, lấy lao động làm gốc mà gắn bó chung thủy với nghề? Câu chuyện của ông Nguyễn Danh Ân đã ám ảnh chúng tôi trong lần về điều tra viết bài về làng tơi Yên Lạc.

Choàng áo tơi phơi lá tơi

Sinh năm 1939. Mười tuổi đã biết chằm tơi. Ông Ân đã có “ thâm niên” chằm tơi hơn 60 năm. Hai lần gia nhập quân ngũ. Lần 1 vào năm 1959 bộ đội quân tình nguyện Việt Lào, trở về quê Yên Lạc lại tiếp tục nghề chằm tơi. Năm 1967 tái ngũ. Hai năm sau xuất ngũ lại gắn bó với bàn tơi. Đến năm 1972, buông tơi tham gia vào đội quân xe đạp thồ. Hết ra rồi vào trên các cung đường ác liệt. Ra quân lại về Yên Lạc vót mây, chuốt lá, chằm tơi. “ Có lẽ nghề tơi với tôi là duyên phận chăng nên cứ bám vào tôi đeo đẳng đến tận bây giờ!”.

Tôi ngước mắt nhìn lên tường nhà đầy huân, huy chương, bằng, giấy khen ghi công những đóng góp của người chiến sỹ năm nào. Đó là niềm kiêu hãnh, niềm vui tinh thần nhưng cuộc sống còn cơm áo gạo tiền, nên nghề chằm tơi trở thành duyên phận.

Một ông già 75 tuổi, mà sáng tinh mơ, cơm đùm xe đạp vào tận khe Giao lên rú Truông Bát hái lá tơi, tối mịt mới về. Về chuốt lá, vót mây, bện triêng cho bà nhà chằm tơi. Năm nào cũng thế. Bền bỉ. Cơm, gạo, mắm, muối, trầu, cau đầu tay, đầu chân. Tịnh không một tiếng kêu ca, phàn nàn.
“Bà nhà” là cụ Đặng Thị Cháu, năm nay đã “ thất thập cổ lai hy”. Ở tuổi 70, bà Cháu vẫn bám ruộng sản xuất . “ Hai ông bà làm hai sào. Tiền giống, nước, thuốc trừ sâu, phân bón tăng vùn vụt. Hai sào thu hoạch gần 5 tạ, trừ trầm chẳng lãi bao nhiêu. Cho nên hai ông bà phải còng lưng chằm tơi góp nhóp thêm đồng trả tiền nước, tiền thuốc chú ạ!”. Thế là hóa ra, nghề chằm tơi lại nuôi nghề làm ruộng!?

Theo ông Ân, nghề chằm tơi với người già đau gối, mỏi lưng, nhưng với hai ông bà không thể không làm, vì đó là nguồn sống. Ông cho biết, con trai ông là anh Nguyễn Danh Thủy và cháu là Nguyễn Thị Thùy hiện ở xóm Yên Lạc vẫn lấy chằm tơi làm nghề phụ. Như thế, nhà ông Ân, nghề tơi là nghề cha truyền con nối.
Vẫn biết nghề mọn này chẳng thể giàu có, nhưng là nghề lao động, mồ hôi, nước mắt làm cho con người thánh thiện ra, nên ông khuyến khích con cháu không bỏ nghề.

Mai sau, con cháu học hành đỗ đạt, có thể làm nghề khác, sinh sống bằng nghề khác, nhưng nghề chằm nón đã dạy cho bài học giản dị, chất phác, bài học yêu lao động để từ đó hình thành nên cốt cách của người lao động thì không thể phụ bạc và khinh nhờn.

Áo tơi và nghề chằm tơi: Chuyện không bao giờ cũ

Vào vụ gặt hay vụ cày cấy (khoảng tháng 5 hay tháng 6) nhìn xuống cánh đồng ở Cẩm Xuyên hay Thạch Hà, Can Lộc, những chiếc áo tơi đã làm dịu đi những nắng lửa. Tơi không chỉ dùng cho người có tuổi mà trẻ em, thanh nữ cũng khoác áo tơi quê nhà. Trẻ em choàng áo tơi chăn trâu, chăn vịt hay nhổ mạ trên đồng. Quây tròn lại, đố gió thổi vào được. Thanh nữ giữa đồng không, mông quạnh, chụm tơi trên bờ là có một WC di động.

“ Trên nắng, dưới nước như đun sôi, lại gió Lào quần quật quạt lửa nữa, không có áo tơi làm răng có thể cúi xuống gặt, cấy hái được chú”. Bà Đặng Thị Cháu trao đổi.
Cái áo tơi lại tiện lợi ở chỗ, buổi trưa giờ nghỉ lên bờ, mấy cái tơi chụm lại thành bóng râm để ăn uống tại chỗ rồi tiếp tục xuống ruộng.

“ Tôi lái máy cày, máy bừa mang tơi chống được nắng nóng. Đúng là hiện đại đồng hành cùng thô sơ”. Anh Thân Viết Thi (38 tuổi) nói.

“ Mùa mưa bão, ni lông, ni liếc mang cảnh, nhằm nhò chi. Cái áo tơi, gió bề nào che bề nấy, mưa có táp vào, bão có quất tơi bời cũng chẳng làm cóc khô chi được!”. Ông Đặng Văn Quang khẳng định.

Cái áo tơi bao đời nay bạc sờn qua năm tháng, dầm mưa dãi nắng là người bạn thấm hết nỗi gian lao của người nông dân. Khi tả tơi, những chiếc áo tơi áy, ngã mình, khum lại lót ổ cho gà ấp trứng hay lại hiến mình che đậy những vại cà, vại nhút mà không chịu là vô ích.

Chiếc áo tơi cùng người nông dân đã thăng hoa thành ca dao, lục bát, thành tranh ảnh, thơ văn và cất lên không chỉ ở “Hà Tĩnh mình thương”… Vì lẽ đó, còn mưa nắng, còn đồng ruộng, còn nông dân là còn nghề chằm tơi. Về Yên Lạc, nhân dân đang hồ hởi xây dựng nông thôn mới. Chiếc áo tơi với nghề chằm tơi câu chuyện không cũ bao giờ!

Du lịch, GO! - Theo Hà Tĩnh online, ảnh internet

Thứ Sáu, 24 tháng 6, 2011

Về làng đệ nhất tửu

Đứng bên những danh tửu như Làng Vân, Gò Đen, Hồng Đào, giữa muôn ngàn danh rượu nhập khẩu về từ các nước… cái tên Bàu Đá ngạo nghễ làm nên một thương hiệu. Có người bạn đi giao lưu với thanh niên ở Nhật về kể, anh chỉ đem theo mấy lít Bàu Đá làm quà và thật bất ngờ, họ khen ngợi hết lời, hỏi tại sao rượu ngon đến vậy mà giờ họ mới được nghe thấy...

Làng làm nên thương hiệu

Bước qua cổng “Làng nghề truyền thống rượu Bàu Đá”, tôi gặp chị Trần Thị Sơn. Chị đon đả đưa chúng tôi về nhà, giới thiệu lò nấu rượu và sản phẩm do chính chị làm ra.
Tay trái cầm ly, tay phải cầm bình, chị Sơn nhẹ nhàng đặt vòi bình rượu vào miệng ly. Chị nghiêng tay kéo bình lên cao, kéo lên rồi ngưng rót, rượu như một dòng thác nhỏ tuôn dài xuống ly, không rơi ra ngoài giọt nào. Rượu vừa đầy là lúc rượu sủi tăm vun lên rồi tan nhanh. Những bong bóng bọt tăm vỡ ra, tạo áp suất đẩy hương rượu bay khắp căn phòng, nồng nàn.
.
< Gìn giữ chất lượng, quảng bá là việc làm cần thiết để rượu thương hiệu Bàu Đá đứng vững và vươn xa hơn.

Cũng tự nhận mình là người có nghề... uống rượu, tôi xin chị cho rót thử. Nhưng bàn tay vụng về của tôi chỉ vừa kéo bình lên, rượu đã văng ra ngoài. Tập nhiều lần nhưng tôi không thể nào làm được, nếu không đổ rượu ra ngoài thì dòng chảy lại không đủ mạnh để rượu sủi tăm.
Đi khắp làng Cù Lâm, vào nhà nào, cũng thấy một bình nhỏ đầy rượu sủi tăm chờ mời khách. Ngồi trong căn nhà xưa, ông Tạ Chí Nhơn kể về mấy đời nấu rượu của gia đình, của làng.

Ông Nhơn cho biết, rượu Bàu Đá rất “nặng” (trên 50 độ) uống nhanh say nhưng say rồi không thấy mệt hay nhức đầu. Ông tự hào: “Say túy lúy rồi tỉnh lại vẫn uống tiếp được. Tôi cũng đi nhiều nhưng chưa có rượu nào uống đã bằng rượu làng mình nấu cả”.
Chính con gái ông nấu rượu sành từ nhỏ, nhưng khi lấy chồng về Tây Sơn muốn đem nghề nấu rượu này để mưu sinh nhưng nấu không thể ngon được. Ông giải thích: “Quyết định chất lượng, hương vị, nồng độ rượu phần lớn là do nguồn nước. Nhiều người tới lấy công thức đi nơi khác nấu nhưng không thành công”.

< Làm cơm rượu cũng là một công đoạn quan trọng để cho rượu trong và ngon.

Bà Nguyễn Thị Em, vợ ông Nhơn đang lục đục dưới bếp với hai nồi rượu, cũng vọng lên tham gia: “Nếu họ nấu được thì đâu còn là rượu Bàu Đá nữa ông”.
Hai lò rượu của bà luôn đỏ lửa từ hơn 30 năm nay. Bà đã quen với độ nồng của rượu, quen với thời tiết, quen với độ lửa làm sao cho rượu ngon nhất. Cầm chai rượu, bà chỉ cần lắc nhẹ và nói chính xác bao nhiêu độ. Còn rượu mà bà không đoán được, bà gọi là “rượu chạy”.

“Rượu chạy”

Theo người làng Cù Lâm, “rượu chạy” là rượu lạt, rượu dở. Mỗi nồi rượu ở làng nấu gồm 6 kg gạo ngon, vào men ủ 6-7 ngày mới đem ra nấu thủ công bằng nồi đất, ống tre. Một buổi chỉ nấu được một nồi, lửa phải thật nhỏ đủ để nồi cơm rượu bốc hơi rồi ngưng tụ qua một thau nước luôn được giữ mát. Nếu lửa lớn, cơm rượu sẽ bị sít vào nồi, rượu sẽ khê… Mỗi nồi nấu chỉ lấy 4 lít, giá thành thấp nhất là 15 ngàn đồng/lít (chưa tính công) trong khi rượu bán tại làng chỉ 17 ngàn đồng/lít.

Tôi hỏi: “Vậy lời ở đâu?”. Bà Em chỉ tay vào đàn heo đang tranh ăn trong chuồng: “Đó, mình chỉ lấy hèm nuôi heo. Ở làng này có ai nấu rượu mà giàu đâu”. Mỗi ngày, nhà ông Nhơn nấu 4 nồi rượu, đủ hèm cho heo ăn.

< Nước giếng ở làng là một “đặc ân” trời cho để nấu rượu ngon.

Rượu của làng bán ra ngoài, người ta cũng nói là mua rượu chính gốc, nhưng thực tế, họ đã pha thêm vào cho nhiều, đặng bán có lãi hơn. Những rượu này rót khó sủi tăm hoặc nếu sủi tăm thì không tan nhanh mà bọt cứ lợn cợn trên mặt ly do tạp chất lẫn vào; rượu trong chai thì chỉ cần lắc nhẹ là đục và rất lâu sau mới trong lại.

Những loại “rượu chạy” này đã làm giảm uy tín rượu của làng. “Tôi dám khẳng định một điều rượu bán ở dọc đường ngoài kia toàn là “rượu chạy” - ông Nhơn bức xúc. Bên cạnh đó, lại có nhiều cơ sở sản xuất, bán rượu Bàu Đá nhưng không lấy giọt rượu nào của làng.
Rượu Bàu Đá ở đâu ra khi không lấy rượu của làng mà rượu dán nhãn Bàu Đá thì nhan nhản trên thị trường, bán đầy dọc quốc lộ, nhất là đoạn qua hai huyện An Nhơn và Tây Sơn? - Ông Nhơn nói thêm.

Một số người nấu rượu cho biết, có nhiều cách để nấu rượu nhanh, nồng độ cao để giả Bàu Đá. Thông dụng nhất là dùng men Trung Quốc, bỏ vào cơm rượu 1-2 ngày là nấu được, không cần ủ lâu; có loại bỏ trực tiếp vào gạo không cần nấu thành cơm.
Một số nơi sản xuất nhiều thì mua mật rỉ ở nhà máy đường về pha với nước, phẩm màu, gia thêm hương vị (thường dùng hương dứa) vào, là thành rượu Bàu Đá xanh, đỏ, vàng, tím đủ màu. Khủng khiếp hơn, một người làm rượu tiết lộ, có loại cồn chỉ cần 2 lít pha với 48 lít nước là thành 50 lít rượu!


< Một hộ dân ở Nhơn Lộc (An Nhơn) nấu rượu Bàu Đá bằng phương pháp thủ công.

Hiện nay, trên thị trường, một lít rượu Bàu Đá đóng đủ loại chai với mẫu mã bắt mắt giá chỉ 14 ngàn đồng/lít, thậm chí, có nơi chỉ bán 12 ngàn đồng/lít. Ông Nhơn băn khoăn: “Họ bán rẻ vậy mà sao lại giàu. Mình bán đắt hơn họ nhiều mà không có đồng lãi nào!”.

“Tôi và nhiều người trong làng cũng một vài lần mua thử loại rượu này về uống. Nếu chưa bao giờ uống rượu chính gốc thì rất khó phân biệt, bởi cũng nồng độ cao, cũng sủi tăm khi lắc chai nhưng rượu rất gắt, uống cứ bứ ở cổ, tăm sủi như bọt xà phòng, uống vào vài ly là đau đầu không chịu nổi”- ông Nhơn cho biết thêm.
Vậy nên, cái ngày trọng đại nhất với người làng Cù Lâm là ngày danh rượu được công nhận thương hiệu, lại có rất ít cơ sở sản xuất rượu Bàu Đá đến tham dự. Có lẽ, họ sợ thương hiệu!

Cho xứng danh “đệ nhất tửu”

Nhà thơ Nguyễn Duy vinh danh rượu Bàu Đá là “đệ nhất tửu”, thi sĩ Tản Đà thì phong là “đệ nhị tửu”… Mỗi người một cách cảm nhận, nhưng ai đã một lần nhấp thử chút men nồng của ly rượu Bàu Đá thì cũng chếnh choáng như hai con người sành rượu trên.
Bà Nguyễn Thị Thanh Bình, Phó Chủ tịch UBND tỉnh kể, đoàn y tế của Hàn Quốc khi đến Bình Định khám chữa bệnh, họ đem theo một số thứ mà họ sợ ở Việt Nam không có như ớt xanh, kim chi, rượu. Nhưng khi được uống rượu Bàu Đá, họ rất mê.

Không chỉ đoàn của Hàn Quốc, nhiều đoàn khách quốc tế khác khi đến Bình Định uống đúng rượu Bàu Đá của làng Cù Lâm cũng đều khen và tìm cách mua mang về. “Việc gìn giữ chất lượng, giới thiệu, quảng bá là việc làm cần thiết để rượu Bàu Đá đứng vững và vươn xa hơn”- Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Thị Thanh Bình nói.

Ông Lê Quang Tâm, Chủ tịch Hiệp hội Sản xuất - Kinh doanh rượu Bàu Đá Bình Định, cho biết, sau khi được Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học - Công nghệ) cấp bằng bảo hộ nhãn hiệu tập thể “Rượu Bàu Đá” cho 53 doanh nghiệp, cơ sở, hộ sản xuất, kinh doanh rượu, cơ quan chức năng sẽ có điều kiện để quản lý, kiểm tra, nhằm lấy lại thương hiệu, uy tín rượu Bàu Đá. “Trước hết, Hiệp hội sẽ phối hợp với các cơ quan chức năng dẹp tất cả những loại rượu không có nhãn mác, rượu giả đã làm giảm uy tín rượu Bàu Đá lâu nay; đồng thời, tạo điều kiện để người sản xuất rượu có lợi nhuận, giữ chất lượng, nhằm nâng cao thương hiệu rượu Bàu Đá” -ông Tâm nói.

< Cây lúa làm ra loại rượu ngon nổi tiếng.

Làng Cù Lâm (xã Nhơn Lộc, huyện An Nhơn) là tên hành chính, người dân từ lâu đã gọi làng này là làng Bàu Đá. Theo những người lớn tuổi ở đây, trước kia, trong làng có một cái bàu rộng vài ha, xung quanh là đá, nước ở bàu này uống rất mát và ngọt.

Lúc đó, nhiều nhà chưa có giếng lấy nước này về uống, nấu ăn và cả nấu rượu. Cái nguồn nước ngọt ngào ấy cho ra một loại rượu nấu từ gạo rất ngon, thơm và uống có hậu (giới uống rượu dùng từ này chỉ cho loại rượu uống xong còn ngòn ngọt ở cổ). Hương rượu của làng bay xa, nhiều người tìm đến mua. Vậy là hình thành làng rượu, hình thành danh tửu Bàu Đá.

Du lịch, GO! - Theo báo Bình Định

Chủ Nhật, 12 tháng 6, 2011

Hữu tình làng Nôm

Với những cây đa, bến nước, sân đình, cầu đá chín nhịp… làng Nôm còn có tên là Đại Đồng thuộc xã Đại Đồng, huyện Văn Lâm, Hưng Yên là ngôi làng cổ hiếm hoi bên cạnh danh thắng phố Hiến còn tồn tại cho đến nay.
Ngôi làng cách trung tâm Hà Nội khoảng 30 km về hướng đông, từ lâu đã nức tiếng gần xa bởi những công trình kiến trúc cổ, cảnh quan thiên nhiên và phong tục tập quán mang đậm dấu ấn của một làng quê Bắc Bộ.

Không rõ cái tên làng Nôm bắt đầu từ đâu, chỉ biết theo các cụ cao niên, ngày xưa con gái ở làng cứ đến 16 tuổi phải nghỉ học, đi buôn bán nuôi chồng ăn học, đỗ đạt làm quan. Khi lấy chồng, họ phải cung tiến cho làng 20 mâm đồng hoặc làm vài chục mét đường làng bằng gạch đỏ. Bởi vậy, ngày nay trên cổng làng vẫn còn khắc ba chữ “Đồng Cầu Nôm” như một lời nhắn nhủ về lịch sử của làng.

Bao bọc quanh làng Nôm vẫn còn nguyên những rặng tre xanh kẽo kẹt gió đưa. Những con đường gạch đỏ son và những bờ rào duối hiếm hoi còn lại xen lẫn với dẫy bờ tường xây dẫn khách lạ vào các ngõ ngách của làng.

Xét về địa thế, toàn bộ làng Nôm là một thể thống nhất hoàn chỉnh bao gồm cổng làng, ao làng, những ngôi nhà cổ, chợ Nôm, cầu Nôm, và 7 nhà thờ cổ của các dòng họ trong làng. Men theo con đường lát gạch đỏ là một cầu đá chín nhịp đầu rồng bắc qua sông Nguyệt Đức sang chợ Nôm. Cây cầu rộng chừng 2m, được ghép bằng những phiến đá lớn, từ xa xưa đã trở thành phương tiện chính để người dân đi lại giao thương.

Ngay trước ba gian chợ bằng gạch đã xỉn màu thời gian là chùa Nôm và một cây gạo khổng lồ. Theo truyền thuyết, xưa kia chùa Nôm được xây giữa rừng thông cổ thụ nên còn có tên hiệu là “Linh Thông cổ tự”. Chùa xây dựng năm 1680, dưới thời Hậu Lê, từng là ngôi đại tự hoành tráng nhất miền Kinh Bắc và hiện còn bảo tồn nguyên vẹn hơn 100 pho tượng cổ.

Bên cạnh tiếng thơm của làng quê có truyền thống văn chương, hiếu học thì trước đây dân làng Nôm còn có nghề buôn đồng nát khắp tứ phương. Chính bởi sự tần tảo, chịu khó giao thương, buôn bán nên kinh tế làng Nôm có phần hưng thịnh, dư dả. Làng hiện còn hơn 10 ngôi nhà cổ với niên đại vài trăm năm. Nổi bật nhất là nhà của cụ Tạ Văn Long làm cách đây gần 200 năm, với toàn bộ phần trụ, cột, hoành đều được làm bằng gỗ còn nguyên vẹn các đường nét chạm trổ tinh xảo. Các công trình kiến trúc bằng gỗ đã chứng tỏ sự phát triển hưng thịnh một thời của làng Nôm.
Cùng với những ngôi nhà cổ, khu di tích đình chùa của làng Nôm càng tôn thêm vẻ đẹp cổ kính của làng quê. Chùa Nôm, tên tự là "Linh thông cổ tự", chùa trước đây là ngôi đại tự hoành tráng thuộc miền Kinh Bắc, nay là Hưng Yên.

Theo truyền thuyết thì xưa kia Chùa Nôm được xây giữa rừng thông cổ thụ nằm trong quần thể di tích lịch sử gắn liền với quá trình thành lập làng Nôm.
Đó là đình Tam Giang thờ vị tướng thời Hai Bà Trưng. Đó là cây cầu đá gồm 9 nhịp đầu rồng đã mấy trăm năm nay soi bóng xuống dòng sông Nguyệt Đức, nâng bước chân thiện nam tín nữ đến với chùa. Đó là làng nghề đúc đồng truyền thống nên trước cổng chùa từ xưa đã trở thành nơi họp chợ mua bán các nguyên liệu phục vụ làng nghề.

Chùa Nôm được xây dựng từ bao giờ không ai còn nhớ.Theo 2 tấm bia lớn còn lưu lại tại đây thì chùa đã được xây dựng lại vào thời Hậu Lê, năm 1680 và được trùng tu nhiều lần sau đó, lần trùng tu mới nhất là vào năm 1998.
Nét đẹp của làng Nôm còn thể hiện ở đời sống văn hóa của người trong làng. Ngoài ngày hội làng, những ngày đi lễ chùa, người dân làng, nhất là các cụ già cũng thường hôm sớm đến đình chùa làm công quả để tô điểm cho cảnh quan đình chùa, cảnh làng ngày càng đẹp hơn trong mắt du khách thập phương khi dừng chân ghé đến...

Du lịch, GO! - Theo báo Thanhnien, Saigontoserco, Flickr

Thứ Ba, 17 tháng 5, 2011

Cuối tuần với chợ Chuông

Mỗi phiên chợ làng Chuông rơi vào thứ 7 hay chủ nhật, là tôi lại í ới bạn bè xách máy ảnh lên đường.

Chợ làng Chuông đã trở nên quen thuộc với nhiều tay máy từ nghiệp dư đến chuyên nghiệp của Hà Nội, bởi ở đó, người ta tìm thấy những khuôn hình đẹp của một làng quê thanh bình, làng nghề vẫn giữ những nét riêng truyền thống... Và bởi thứ không khí nhẹ nhàng mà phố thị không có được trong suốt một tuần mệt mỏi và hối hả bởi áp lực công việc và cuộc sống.

Chợ làng Chuông thì sáng nào cũng họp, vì đó là phiên chợ mỗi ngày của xã Phương Trung, huyện Thanh Oai thuộc tỉnh Hà tây (cũ), nay đã là chợ quê của Hà Nội. Nhưng chợ nón làng Chuông thì chỉ họp 6 phiên một tháng, vào các ngày âm lịch có đuôi tận cùng là 4 và 0. Thỉnh thoảng giật mình nhìn lên đốc lịch, tôi lại thấy trong lòng háo hức nếu chợt nhận ra ngày phiên chợ.

Chợ Chuông gần lắm, cách trung tâm Hà Nội chưa đầy 30km, chỉ có điều phiên chợ nón họp sớm, 6g sáng chưa tỏ mặt người đã nghe lao xao nói cười, chộn rộn cả đình làng Chuông, chộn rộn mọi ngõ ngách xóm nhà hay tiếng người vọng xa vọng gần trên con đê sông Đáy.

Cuối tuần có phiên chợ nón, tôi thường thức dậy lúc 5g, hẹn bạn đồng hành ở cầu Hà Đông, rồi chạy xe long rong qua thị xã đang cựa mình thức giấc. Những chiếc xe máy, xe thồ ngược chiều chở đầy thực phẩm từ ngoại thành vào phố, cắm cúi, vội vàng. Thấy hạnh phúc khi cuộc sống bận rộn mà mình vẫn sắp xếp được thời gian đi rong, được thỏa mãn thú vui đi lại, thú vui chụp ảnh..

Tôi thích leo lên gác chuông ngồi ngắm người dưới chợ đi qua đi lại, trao đổi, mua bán, mặc cả, ngó nghiêng. Cũng không quên ghé qua quán nước dưới gốc đa làng để mang theo lên một ấm trà và dăm ba cái chén, vừa uống vừa chuyện phiếm với bạn bè. Từ trên cao nhìn xuống, thấy lòng hân hoan một cảm giá khó tả.

Này nhé, sân chùa đầy các mẹ, các chị với những chồng lá nón cao ngất ngưởng, ấy thế mà chỉ 2 tiếng sau thôi, đã thấy rất nhiều người dọn hàng đi về tự bao giờ. Xe đạp dựng ngổn ngang, ai cũng tíu tít bận rộn với vội vàng. Quanh ao làng, người cũng ngồi đông chen chúc, ai mua ai bán, ai chọn hàng đẹp, ai nài hàng xấu... tôi không nhận ra, nhưng thấy cuộc sống giản dị ấy cứ chảy trôi, chảy trôi quá đỗi nhẹ nhàng.

Phía bờ đê, người làng hay bán hoa, bán rau lẫn với bán mo cau. Vì là phiên chợ nón, nên nguyên liệu nón đâu đâu cũng thấy: là lá, là mo, là khuôn nón, vòng nón, chỉ lồng nhôi rực rỡ sắc màu, chỉ cước trắng tinh, đỏ tươi lấp lánh…

Người ở gần tới chợ Chuông để mua nguyên liệu về khâu nón thành phẩm, đến phiên chợ sau lại có hàng mang ra bờ sông Đáy, giao cho người buôn xa đi về khắp các tỉnh thành. Đâu đâu cũng đông vui, náo nhiệt và rộn ràng.
Đầu cổng chợ, là nơi bán nón thành phẩm. Ngay cạnh đó có một hẻm nhỏ toàn các cụ già trao đổi mua bán vòng nón đã quây và các thanh vòng mới vót.

Chỗ bán nón thành phẩm lúc nào cũng đông và ấm sực vì người đông vô kể. Các bà, các chị đi bán nón nhiều khi cứ phải cầm cả chồng giơ lên cao trên đầu để đi xuyên qua đám đông đang say sưa chọn hàng và mặc cả, nài giá. Đám con buôn cứ chắp tay đeo túi đi vòng vòng, xem xét hàng rồi thủng thẳng trả giá, trả được giá thì gom hàng vào một chỗ, chờ vãn chợ là xếp và quấn thành một chồng dài, cho lên xe kĩu kịt đi tới bến ô tô, nhanh chóng tỏa đi khắp chốn.
Chợ nón vãn người sau chừng 2g họp chợ, tôi lại lững thững quay lại sân chùa Chuông, lúc này chỉ còn sót lại một vài người đang ngồi cố bán những chùm lá nón cuối cùng, có những cụ bà hỉ hả lần tiền trong bao tượng ra đếm, có những chị gái tranh thủ dọn nốt hàng xếp lên chiếc xe đạp cũ để về nhà… Ai cũng mộc mạc, dễ gần, và câu chuyện về cuộc sống nở ra khi bạn bắt lời…

Mỗi cuối tuần đúng phiên chợ Nón làng Chuông, tôi lại muốn được về chốn ấy, được nhìn những mảnh cuộc sống dịu êm, được trò chuyện với những người phụ nữ tảo tần và hồn hậu, được uống chén chè chát trên gác chuông tam quan, hay dạo bước qua những gian hàng ồn ào rộn rã…

Du lịch, GO! - Theo TTO

Thứ Sáu, 29 tháng 4, 2011

Một sớm trên bãi biển Cam Bình

Khoảng hơn chục năm trở lại đây, địa danh Bãi biển Cam Bình (thị xã La Gi) trở thành điểm du lịch có sức hấp dẫn vì cảnh quan sinh thái của một rừng dương xanh phủ tràn ngập bóng mát và một bãi cát trắng lóng lánh đầy nắng vàng.

Từ lâu, bãi biển Cam Bình đã nổi tiếng hoang sơ với rừng dương bát ngát, cát trắng lấp lánh dưới nắng, sóng biển vỗ nhẹ, lý tưởng cho việc tắm biển, chơi trò chơi hay cắm trại. Không những vậy, việc đánh bắt gần bờ bằng mủng của ngư dân xã Cam Bình cũng cung cấp cho khách du lịch đến nơi này nhiều loại hải sản tươi ngon, đặc biệt là loại cá đục có vẩy màu vàng, non ngón tay, nướng chấm mắm me cũng ngon mà làm gỏi cũng ngọt.

Khách du lịch khá quen thuộc với những thức ăn hải sản được chế biến một cách dân dã, tươi rói hương vị miền biển. Nồi cháo cá hanh hành ngò béo ngậy, lò than hồng thơm lừng những con cá đục, mực,ghẹ…

Bởi ngay trên bãi ngang này tự dưng định hình một làng nghề biển hiếm thấy bởi chỉ toàn những thuyền thúng chài lưới ven bờ, có đến bốn trăm thuyền thúng ở đây. Ngày trước, nghề này là loại thúng chai bằng tre nang, trét dầu rái, mũ cây chai rừng và bột xảm …

Hàng loạt chiếc thúng đường kính 2- 2,5 mét, tròn vành nằm phơi trên bờ cát trắng và ngoài biển sóng nhấp nhô những chiếc thúng tựa như nốt nhạc trên dòng âm thanh rì rào của biển cả. Có thúng không phải dùng dầm bơi như trước nữa mà gắn một máy kô-le khoảng 0,65 sức ngựa, đủ sức cưỡi sóng thong dong.

Theo chỉ dẫn của những ngư dân nghề thúng, tôi tìm đến nhà của một người đã góp phần làm cuộc “cách mạng” từ chiếc thuyền thúng chai đan tre thô sơ xưa cũ để sản xuất hàng trăm sản phẩm thuyền thúng với chất liệu công nghệ “hiện đại” hơn. Đó là anh Lê Văn Nam, chủ cơ sở sản xuất và cũng là nhà ở của anh trên mảnh vườn gần một mẫu, thuộc thôn Mũi Đá, xã Tân Phước (La Gi), không xa mấy với bãi biển Cam Bình.
Nhà xưởng làm thúng đang có trên trăm chiếc, có chiếc đang công đoạn hoàn thiện có chiếc chờ khách mua đến nhận hàng. Khách hàng của anh không những ở La Gi để theo thuyền tàu lớn ra khơi câu mực, mà còn bán ra Phan Thiết, Bình Châu. Mùi hợp chất composite, vải bạc sợi nhựa… làm nên cái không khí miệt mài khá bài bản. Anh Nam đã trả giá bằng công của cả năm trời mày mò mới được như ngày hôm nay. Nhìn thấy những chiếc thúng thành phẩm chưa xuất xưởng cũng như hàng trăm chiếc đang hành nghề đều một màu xanh dương nước biển, anh Nam nói để hoà với không gian đại dương và dịu dàng hơn, nên trở thành thương hiệu thuyền thúng Văn Nam. Cho nên bây giờ tên gọi thúng chai bằng nguyên liệu tre nang không còn nữa. Hỏi ra với số tiền 3 hoặc cao nhất 5 triệu đồng, với những gia đình làm nông kết hợp nghề biển ven bờ thì có khả năng sắm được.

Những ngư dân thuyền thúng ở đây đều sống bằng nghề nông, mà thuyền thúng là loại nghề “nông nhàn”, nhưng dần dần có người sống được và lấy làm nghề chính sống theo khu du lịch này. Hôm tôi đến, đó là buổi sáng cuối năm, biển êm vừa đang giờ thuyền vào bờ. Những tay lưới giũ ra đầy những con cá hố, cá hanh lẫn cùng ghẹ, tôm, mực…Một ngư dân với giọng quê Quảng Trị, nói có hôm may mắn cũng kiếm được 5-6 triệu đồng và khi gặp sóng to, khi biển động chỉ vài ba trăm ngàn….nhưng bù được cho khoảnh lúa èo uột trên đất ruộng vùng cát bạc màu. Đây đó những chiếc xe bò một, hoà nhập với cảnh rộn ràng bờ biển để tải những chiếc thuyền thúng lên bờ, thay vì trước đây phải 5- 6 người hì hục gồng vai khiêng đẩy.

Phần đông dân cư địa phương là người quê Quảng Trị. Họ kể lại từ năm 1972, mùa hè đỏ lửa, chế độ cũ đưa cả làng Cam Lộ, Gio Linh…vào định cư vành đai tỉnh lỵ Bình Tuy sống đến nay, rồi coi đây là quê hương của mình. Do vậy mà có tên Cam Bình là từ chữ Cam Lộ ghép với Bình Tuy. Gia đình anh Lê Văn Nam, chủ cơ sở sản xuất thuyền thúng là một hình ảnh thu nhỏ cái gian khổ, sự cật lực và ý chí vươn lên của người dân bỏ làng quê, đi lập nghiệp.

Năm nay anh Nam 47 tuổi nhưng vợ chồng anh đã có 6 người con, anh kể theo cha mẹ vào đây, cũng như nhiều gia đình cùng cảnh ngộ di dân, có thể nói là hai bàn tay trắng. Vậy mà anh nuôi được 5 đứa con đang học cao đẳng, đại học còn lại 1 đứa đang học lớp 12 THPT. Trong bà con xóm Mũi Đá – Cam Bình, cũng có nhiều người như anh Châu, anh Từ, anh Ngà …đã từ cái khổ rồi nay có được một cơ ngơi cuộc sống ổn định và con cái trưởng thành, khác với cái thời vất vả của các anh ngày nào.

Dọc dài bãi biển êm ả này hiện có gần 20 dự án du lịch với loại hình nghỉ dưỡng, resort và một khu du lịch Cộng đồng, cặp theo con đường nhựa rộng chạy xuống trung tâm thị tứ La Gi không đầy 4 cây số, nhưng nay các dự án này vẫn chưa có gì để gọi là chuyển động kể cả khu qui hoạch du lịch Cộng đồng lẽ ra là đòn bẩy tác động, vì vướng mắc chuyện đền bù, giải toả bị kéo rê từ nhiều năm nay.

Dự án đợi chính quyền, dân chờ dự án, đất vàng hoá đất hoang…may mà còn một xóm bãi ngang thuyền thúng với những chiếc quán mái hờ nép dưới bóng dương xanh, để có một địa danh Cam Bình thi vị và triển vọng. Nhưng có điều nhiều người băn khoăn không biết nay mai hàng trăm chiếc thuyền thúng này sẽ đi về đâu. Không những đó là một nghề sống của dân địa phương mà còn là cái chợ hải sản tự phát nho nhỏ tạo nguồn ẩm thực dân dã ngon tươi và một hình ảnh làng nghề trong ký ức của khách du lịch đến đây.

Du lịch, GO! - Theo Lagitoday

Thứ Ba, 19 tháng 4, 2011

Đặc sản Trà Ôn

Trà Ôn là vùng đất màu mỡ, trù phú của tỉnh Vĩnh Long, với sông sâu nước chảy, nhân dân lao động cần cù chịu khó, nên nơi đây có nhiều sản vật, đặc sản cũng như những làng nghề truyền thống nổi tiếng.

Tôm càng xanh là một đặc sản của người dân Vĩnh Long ở ven bờ sông Hậu. Người dân ven bờ thường chất chà ở những “búng” hoặc những nơi có dòng nước chảy mạnh để bắt tôm càng xanh.

Tôm càng ngon nhất là nướng tươi trên bếp than hồng. Đốt một lò than đước, đặt vỉ lên và gắp từng chú “tôm” cho lên vỉ trở đều. Mùi thơm của tôm nướng tỏa ra trong không gian đủ làm kích thích người ta tiết ra dịch vị.

Khi nướng, những con tôm từ từ đổi sang màu hồng, rồi đỏ au, sau cùng sem sém lửa là lúc tôm đã chín. Bỏ vỏ, bỏ đầu, lõi tôm chắc nịch sẽ hiện ra. Bạn cứ thế cầm, chấm vào chén muối tiêu chanh rồi từ từ thưởng thức. Vị béo của gạch, vị ngọt của thịt tôm hòa với vị mặn của muối, vị cay của tiêu, vị chua của chanh lan tỏa nơi đầu lưỡi khiến bạn chỉ muốn... tôm đừng vơi đi.

Trà Ôn còn có một đặc sản rất nổi tiếng ấy là cam xoàn. Cam xoàn cùng một họ với cam mật, dễ trồng. Cây sinh trưởng và phát triển mạnh, thích nghi với vùng đất cao ráo thoát nước tốt. Cam xoàn ruột vàng, vị ngọt thanh hơn quít, trái to, cây từ 3 năm tuổi trở lên có trái quanh năm. Ẩm thực địa phương

Đặc điểm của cam xoàn là trái càng nhỏ thì vị càng ngọt thanh, có mùi thơm nhẹ, múi dẽ so với các loại cam sành, cam mật. Khách có thể mua cam xoàn cùng với những đặc sản nổi tiếng khác như cam sành, bưởi Năm Roi, măng cụt, chôm chôm, xoài cát... với giá cả phải chăng tại chợ Trà Ôn hoặc các sạp trái cây nhỏ dọc đường. Tuy nhiên, để chọn đúng loại cam này, bạn cần nhớ đặc điểm của quả cam là dưới đít trái cam xoàn chánh gốc luôn có dấu tròn như đồng xu, hơi lõm.

Ngoài cam xoàn, còn có bánh tráng nem ở cù lao Lục Sĩ Thành khách hay mua mang về làm quà. Sản xuất bánh tráng nem trước kia người ta chỉ dùng gạo lúa mùa, hiện nay được thay thế bằng loại gạo chất lượng cao. Bánh tráng Tân Thạnh thường ăn kèm cá lóc nướng trui kẹp thịt ba rọi, rau thơm, hoặc dùng cuốn thịt tôm nướng hay gói bò nhúng giấm.

Theo Socbaytravel