Nhìn trên bản đồ, Si Ma Cai như một chỏm nhỏ nằm chơ vơ bên dòng sông Chảy vắt ngang biên giới Việt - Trung. Đường đến đây uốn lượn quanh co bên trên những ngọn núi nối liền kề, nhiều lúc lại vắt ngang những đám mây trôi lững lờ.
Ở độ cao trên 1.600 m so với mực nước biển, Si Ma Cai (Lào Cai) luôn khiến du khách say cảnh, say tình bởi màu xanh thẳm của núi rừng, những thiếu nữ dân tộc xinh đẹp, đầy sức sống.
Si Ma Cai nằm cách biên giới Việt - Trung 11 km, với 5 dân tộc anh em: Kinh, Tày, Nùng, Mông và La Chí. Nhìn trên bản đồ, Si Ma Cai như một chỏm nhỏ nằm chơ vơ bên dòng sông Chảy vắt ngang biên giới Việt - Trung. Đường đến đây uốn lượn quanh co bên trên những ngọn núi nối liền kề, nhiều lúc lại vắt ngang những đám mây trôi lững lờ. Người Si Ma Cai thật thà, chất phác, với những phong tục tập quán phong phú, mang bản sắc văn hóa riêng, còn nguyên vẹn của từng dân tộc thiểu số.
.
< Hồn nhiên nụ cười thiếu nữ Mông Si Ma Cai.
Người dân nơi đây rất thân thiện và dễ mến, bạn có thể thử bằng cách đưa ra lời đề nghị chụp hình những đứa trẻ đang đi bên đường.
Bọn trẻ sẽ tỏ ra thích thú cười tươi sẵn sàng làm người mẫu cho khách lạ đến từ phương xa... trong khi cũng lời đề nghị đó nhưng lại nhận được câu trả lời “chụp ảnh phải trả tiền á” của một nhóm trẻ em ở Sa Pa. Chứng tỏ rằng du lịch chưa làm mất đi bản sắc chân chất của người Si Ma Cai.
< E ấp tuổi 18.
< Cởi mở và thân thiện, những giá trị nhân văn luôn để lại ấn tượng tốt đẹp với du khách khi đến Si Ma Cai.
< Thiếu nữ Si Ma Cai.
Chả phải kém văn minh vì trong một tiệm net công cộng khá nhộn nhịp kẻ ra người vào, mấy cô gái Mông trong trang phục truyền thống tụm hai tụm ba xúm vào màn hình để... chat. Chốc chốc lại quay mặt ra khỏi màn hình cười tủm tỉm như sợ bị “đối phương” phát hiện.
Khi “bị” người khác nhìn thấy, mấy cô đỏ mặt thẹn thùng...
Tại chợ Si Ma Cai, những sản phẩm từ miền xuôi cũng xuất hiện khá nhiều trong những gian hàng tạp hóa của người dân nơi đây.
Dù không may mắn như người anh em Sa Pa nằm ở mặt tiền thuận lợi cho du khách, lại được thiên nhiên ưu ái cho đỉnh núi cao nhất bán đảo Đông Dương - Phanxipăng, Si Ma Cai nằm lặng lẽ ẩn mình trong góc khuất bên dòng sông Chảy.
Tuy nhjiên, nếu được lựa chọn để làm một chuyến du lịch lại, tôi sẽ chọn Si Ma Cai chứ không phải Sa Pa vì nét hoang sơ, sự quyến rũ và cả sự thân thiện hiếu khách của người dân nơi đây. Cả ngày ở đây, chúng tôi không hề bị đòi tiền “bo” (vẫn thường gặp ở Sa Pa và nhiều địa điểm du lịch khác) từ người dân bản xứ khi chụp hình họ, thay vào đó là những nụ cười tươi hồn hậu. Bạn cũng có thể tản bộ thong thả mà không sợ bị quấy rầy bởi những người bán đồ lưu niệm, thổ cẩm.
Du lịch, GO! - Tổng hợp từ Vedep, DulichTuoitre, internet
Hiển thị các bài đăng có nhãn Gái đẹp 3 miền. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Gái đẹp 3 miền. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Ba, 12 tháng 7, 2011
Thứ Tư, 6 tháng 7, 2011
Phấn nụ Huế
Thời nhà Nguyễn, các cung tần mỹ nữ đã biết dùng loại mỹ phẩm để trang điểm cho bản thân nhằm cuốn hút bậc vua chúa. Và đến nay bí quyết làm đẹp đó vẫn được lưu truyền.
Mỹ phẩm cho làn da cung phi
Vùng đất Thừa Thiên lắm nắng nhiều mưa xưa kia là kinh đô của nhà Nguyễn.
Bên trong những lâu đài, thành quách uy nghiêm, phía sau chốn nội cung, những bậc mẫu nghi, các quý bà, quý cô, các cung tần mỹ nữ vẫn có nhu cầu làm đẹp để cuốn hút những bậc vua chúa. Trước đây, việc làm đẹp của cung tần mỹ nữ trong Hoàng cung cực kì công phu và kĩ lưỡng. Không có hóa phẩm hóa học can thiệp, do đó những sản phẩm mà nữ giới dùng để làm đẹp hoàn toàn từ thiên nhiên.
.
Theo lời cô Trần Thị Ái Thu (SN 1963) tại số nhà 34 Tô Hiến Thành, thành phố Huế, chủ nhân của cửa hiệu phấn nụ bà Tùng nổi tiếng xứ Huế thì người đầu tiên nắm giữ bí quyết làm phấn nụ trong cung đình Huế chính là người mà cô Thu gọi là bà ngoại. Những bí quyết làm đẹp, những công thức pha chế để tạo nên các sản phẩm làm đẹp cho quý bà, chính người thị nữ này đã tập hợp lại để sản xuất hàng loạt với tên gọi của một dòng sản phẩm: Phấn nụ.
Gọi là phấn nụ vì viên phấn dưỡng da có hình như nụ hoa màu trắng, hồng cánh sen, hồng đào... từng màu lại có độ đậm nhạt khác nhau cho tương thích với từng loại da.
Nụ phấn thành phẩm mát lạnh, thơm nhẹ và xinh xắn. Phấn nụ xưa chỉ có màu trắng tinh khi thoa lên da người phụ nữ sẽ có gương mặt của các nàng geisha của Nhật Bản. Dòng phấn dưỡng da còn có phấn nước dùng về đêm, khi dùng lắc đều cho bột phấn hòa cùng nước thuốc thành một dung dịch sền sệt, đắp lên mặt có tác dụng như một lớp mặt nạ bùn khoáng.
Công phu như vậy nên việc làm đẹp cho những quý bà ngày xưa rất cầu kì. Đổi lại, hiếm có ai có được những làn da trắng muốt và thơm thảo như vậy. Tương truyền, bà Từ Cung, mẹ của vua Bảo Đại - cả đời dùng phấn nụ, thọ đến 104 tuổi nhưng làn da không một vết nâu hay đốm đồi mồi nào xuất hiện.
Tiếp chuyện tôi trong căn nhà cổ lẩn khuất dưới những tán lá, cô Thu cho biết: “Phấn nụ có công dụng dưỡng da mặt mịn màng, trắng da, trị mụn và tàn nhang, giải độc tố, giúp giảm viêm, hạn chế quá trình lão hóa, ổn định bề mặt biểu bì, hài hòa màu da tự nhiên”. Ngay cả người phụ nữ đang ngồi tiếp chuyện với tôi, dù con cái đã lớn, sống trong môi trường hiện đại với đủ những chất độc, khói bụi có thể làm ảnh hưởng da mặt nhưng làn da của bà vẫn ánh lên sắc tươi và căng mát.
Chỉ làm từ nước mưa Huế
Lạ cho thiên nhiên xứ Huế với những cơn mưa thối trời thối đất, những ngày nắng gắt gỏng cháy đầu. Nhưng rồi chính trời đất này lại là môi trường lý tưởng và tốt nhất để sản xuất ra loại phấn nụ nức danh.
Theo cô Thu, làm phấn nụ rất công phu và trải qua tới 9 công đoạn, tỉ mỉ từ đầu đến cuối. Chỉ riêng việc hứng nước mưa đã khó, nước mưa phải là nước mưa Huế, phải là nước tinh khiết, không lấy từ mái tôn, không hứng nước mưa lần đầu tiên.
Mùa mưa, người phụ nữ chắt chiu từng giọt nước sạch, gạn lọc kĩ rồi cất trong chum, vại để đến mùa nắng thì mang ra sản xuất phấn nụ. Chính hai người chị gái của cô Thu là bà Tùng và bà Phương đang định cư ở Mỹ và TP HCM đã từng có ý định sản xuất phấn nụ ở địa phương khác, thế nhưng do không đảm bảo yêu cầu về nguồn nước nên hằng năm các bà vẫn phải về Huế sản xuất phấn rồi mang tới những nơi trên để bán.
Nguyên liệu chính để làm phấn là thạch cao và phải là loại thạch cao tốt nhất, trắng mịn không có tạp chất. Để có từng loại phấn phù hợp cho việc trang điểm, cô Thu thường chọn trên 10 vị thuốc Bắc, những vị thuốc này được giấu kín không cho ai biết.
Trước tiên, cao lanh được nướng chín trên lửa than không khói cho đến khi trở thành trắng tuyết. Chờ nguội cao lanh được nạo thành bột rồi hòa với nước mưa trong rồi khuấy kĩ. Mỗi sáng chỗ nước cặn được gạn bỏ, phần bột còn lại được quấy rồi lọc qua hai ba lớp vải sa nõn chồng lên nhau để bỏ đi phần cặn thô...
Đủ 8 ngày, chỗ bột còn lại nhẹ tênh và mịn như nhung. Lần gạn cuối cùng, người ta đặt nhiều lớp giấy thấm hay giấy bản trên khay bạc, phủ lên trên cùng một lớp vải để thấm nước rồi lấy thìa múc bột đổ thành nụ hình xoắn ốc lên vải. Khi nước đã kiệt, phấn được đưa vào phơi ở những chỗ thoáng mát, sau đó được cất vào các hộp kín để ướp cùng hương hoa nhài, hoa bưởi hoặc hoa sứ trắng hái lúc mờ sáng.
Mất khoảng mươi ngày để ướp hương hoa, nụ phấn sẽ thơm ngát. Phấn nụ hồng có thêm phẩm màu chiết từ dịch cánh sen hoặc cánh hoa hồng đỏ chưng kín hơi.
Để làm ra một mẻ phấn nụ phải mất rất nhiều thời gian như gạn lắng, ủ nắng, phơi sương, ướp hương. Khi nặn phấn lại càng kiên trì hơn, mạnh tay một chút là hỏng, không thể thành nụ như tên gọi.
Trừ những công đoạn phơi, nặn, toàn bộ những khâu pha chế phụ gia, liều lượng đều được thực hiện trong phòng kín.
Sản phẩm khi làm ra, được các quý bà ngày xưa sử dụng như một sản phẩm làm đẹp nhanh và nhiều công dụng nhất. Không những vậy, phấn nụ từ ngày xưa còn được dùng như một phương thuốc phát hiện các bệnh như cảm, cúm, chuyển người...rất hữu hiệu. Chỉ cần đánh phấn vào người, sau một đêm nếu da bị nổi mốc lên tức là người đã nhuốm bệnh, nếu da láng, trơn tức là người đó khỏe.
Du lịch, GO! - Theo Zing
Mỹ phẩm cho làn da cung phi
Vùng đất Thừa Thiên lắm nắng nhiều mưa xưa kia là kinh đô của nhà Nguyễn.
Bên trong những lâu đài, thành quách uy nghiêm, phía sau chốn nội cung, những bậc mẫu nghi, các quý bà, quý cô, các cung tần mỹ nữ vẫn có nhu cầu làm đẹp để cuốn hút những bậc vua chúa. Trước đây, việc làm đẹp của cung tần mỹ nữ trong Hoàng cung cực kì công phu và kĩ lưỡng. Không có hóa phẩm hóa học can thiệp, do đó những sản phẩm mà nữ giới dùng để làm đẹp hoàn toàn từ thiên nhiên.
.
Theo lời cô Trần Thị Ái Thu (SN 1963) tại số nhà 34 Tô Hiến Thành, thành phố Huế, chủ nhân của cửa hiệu phấn nụ bà Tùng nổi tiếng xứ Huế thì người đầu tiên nắm giữ bí quyết làm phấn nụ trong cung đình Huế chính là người mà cô Thu gọi là bà ngoại. Những bí quyết làm đẹp, những công thức pha chế để tạo nên các sản phẩm làm đẹp cho quý bà, chính người thị nữ này đã tập hợp lại để sản xuất hàng loạt với tên gọi của một dòng sản phẩm: Phấn nụ.
Gọi là phấn nụ vì viên phấn dưỡng da có hình như nụ hoa màu trắng, hồng cánh sen, hồng đào... từng màu lại có độ đậm nhạt khác nhau cho tương thích với từng loại da.
Nụ phấn thành phẩm mát lạnh, thơm nhẹ và xinh xắn. Phấn nụ xưa chỉ có màu trắng tinh khi thoa lên da người phụ nữ sẽ có gương mặt của các nàng geisha của Nhật Bản. Dòng phấn dưỡng da còn có phấn nước dùng về đêm, khi dùng lắc đều cho bột phấn hòa cùng nước thuốc thành một dung dịch sền sệt, đắp lên mặt có tác dụng như một lớp mặt nạ bùn khoáng.
Công phu như vậy nên việc làm đẹp cho những quý bà ngày xưa rất cầu kì. Đổi lại, hiếm có ai có được những làn da trắng muốt và thơm thảo như vậy. Tương truyền, bà Từ Cung, mẹ của vua Bảo Đại - cả đời dùng phấn nụ, thọ đến 104 tuổi nhưng làn da không một vết nâu hay đốm đồi mồi nào xuất hiện.
Tiếp chuyện tôi trong căn nhà cổ lẩn khuất dưới những tán lá, cô Thu cho biết: “Phấn nụ có công dụng dưỡng da mặt mịn màng, trắng da, trị mụn và tàn nhang, giải độc tố, giúp giảm viêm, hạn chế quá trình lão hóa, ổn định bề mặt biểu bì, hài hòa màu da tự nhiên”. Ngay cả người phụ nữ đang ngồi tiếp chuyện với tôi, dù con cái đã lớn, sống trong môi trường hiện đại với đủ những chất độc, khói bụi có thể làm ảnh hưởng da mặt nhưng làn da của bà vẫn ánh lên sắc tươi và căng mát.
Chỉ làm từ nước mưa Huế
Lạ cho thiên nhiên xứ Huế với những cơn mưa thối trời thối đất, những ngày nắng gắt gỏng cháy đầu. Nhưng rồi chính trời đất này lại là môi trường lý tưởng và tốt nhất để sản xuất ra loại phấn nụ nức danh.
Theo cô Thu, làm phấn nụ rất công phu và trải qua tới 9 công đoạn, tỉ mỉ từ đầu đến cuối. Chỉ riêng việc hứng nước mưa đã khó, nước mưa phải là nước mưa Huế, phải là nước tinh khiết, không lấy từ mái tôn, không hứng nước mưa lần đầu tiên.
Mùa mưa, người phụ nữ chắt chiu từng giọt nước sạch, gạn lọc kĩ rồi cất trong chum, vại để đến mùa nắng thì mang ra sản xuất phấn nụ. Chính hai người chị gái của cô Thu là bà Tùng và bà Phương đang định cư ở Mỹ và TP HCM đã từng có ý định sản xuất phấn nụ ở địa phương khác, thế nhưng do không đảm bảo yêu cầu về nguồn nước nên hằng năm các bà vẫn phải về Huế sản xuất phấn rồi mang tới những nơi trên để bán.
Nguyên liệu chính để làm phấn là thạch cao và phải là loại thạch cao tốt nhất, trắng mịn không có tạp chất. Để có từng loại phấn phù hợp cho việc trang điểm, cô Thu thường chọn trên 10 vị thuốc Bắc, những vị thuốc này được giấu kín không cho ai biết.
Trước tiên, cao lanh được nướng chín trên lửa than không khói cho đến khi trở thành trắng tuyết. Chờ nguội cao lanh được nạo thành bột rồi hòa với nước mưa trong rồi khuấy kĩ. Mỗi sáng chỗ nước cặn được gạn bỏ, phần bột còn lại được quấy rồi lọc qua hai ba lớp vải sa nõn chồng lên nhau để bỏ đi phần cặn thô...
Đủ 8 ngày, chỗ bột còn lại nhẹ tênh và mịn như nhung. Lần gạn cuối cùng, người ta đặt nhiều lớp giấy thấm hay giấy bản trên khay bạc, phủ lên trên cùng một lớp vải để thấm nước rồi lấy thìa múc bột đổ thành nụ hình xoắn ốc lên vải. Khi nước đã kiệt, phấn được đưa vào phơi ở những chỗ thoáng mát, sau đó được cất vào các hộp kín để ướp cùng hương hoa nhài, hoa bưởi hoặc hoa sứ trắng hái lúc mờ sáng.
Mất khoảng mươi ngày để ướp hương hoa, nụ phấn sẽ thơm ngát. Phấn nụ hồng có thêm phẩm màu chiết từ dịch cánh sen hoặc cánh hoa hồng đỏ chưng kín hơi.
Để làm ra một mẻ phấn nụ phải mất rất nhiều thời gian như gạn lắng, ủ nắng, phơi sương, ướp hương. Khi nặn phấn lại càng kiên trì hơn, mạnh tay một chút là hỏng, không thể thành nụ như tên gọi.
Trừ những công đoạn phơi, nặn, toàn bộ những khâu pha chế phụ gia, liều lượng đều được thực hiện trong phòng kín.
Sản phẩm khi làm ra, được các quý bà ngày xưa sử dụng như một sản phẩm làm đẹp nhanh và nhiều công dụng nhất. Không những vậy, phấn nụ từ ngày xưa còn được dùng như một phương thuốc phát hiện các bệnh như cảm, cúm, chuyển người...rất hữu hiệu. Chỉ cần đánh phấn vào người, sau một đêm nếu da bị nổi mốc lên tức là người đã nhuốm bệnh, nếu da láng, trơn tức là người đó khỏe.
Du lịch, GO! - Theo Zing
Thứ Năm, 23 tháng 6, 2011
Người Tày và lễ hội Nàng Hai
Lễ hội Nàng Hai là một nét sinh hoạt văn hóa dân gian độc đáo của dân tộc Tày Việt Bắc. Lễ hội Nàng Hai theo đúng tên gọi là: “Mời Nàng Hai (mời Nàng Trăng) xuống hạ giới để giao lưu cùng với con người. Tín ngưỡng thờ mẹ của người Tày bắt nguồn từ truyền thống coi trọng mẹ sinh sản, tôn trọng mẹ sinh sản. Nữ thần trông coi việc sinh sản được gọi là Mẻ Bjoóc (Mẹ Hoa). Họ cho rằng Mẹ Hoa ở trên trời mới là mẹ đẻ còn mẹ ở trần gian chỉ là người thừa lệnh Mẹ Hoa sinh ra con. Lễ hội Nàng Hai với tục thờ Mẹ Trăng là có liên quan đến tục thờ mẹ nói trên.
Hội Nàng Hai là lễ hội dân gian đậm màu sắc tâm linh, thể hiện nét sinh hoạt văn hóa mang đậm bản sắc của dân tộc Tày. Đây là lễ hội đặc sắc mang tính diễn xướng tổng hợp – có các bài lượn và bài cúng tế được hát trong suốt quá trình lễ hội. Dù là tên gọi hay hình thức tổ chức nào, lễ hội này thực chất đều mang ý nghĩa mời nàng Hai về ban mùa màng và hạnh phúc cho dân bản. Có thể coi Nàng Hai là lễ hội đặc sắc, tổng hợp các lễ hội của người Tày.
Lễ hội Nàng Hai hay còn gọi là lễ hội Nàng Trăng được tổ chức vào mùa xuân và mùa thu trong phạm vi một xã hoặc nhiều xã dưới nhiều tên gọi như: Hội Trăng, hội mời Nàng Hai (mời Nàng Trăng)… Lễ hội này được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau. Có nơi thiên về bói toán như một số nơi thuộc Bảo Lạc (Cao Bằng), Vị Xuyên (Hà Giang), có nơi thiên về trình diễn đối đáp ban phúc như một số nơi thuộc huyện Thạch An (Cao Bằng), nhiều nơi lại là hình thức cầu mùa như Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Cạn.
Ở hội Nàng Hai, người chủ trì việc cúng tế lễ trình báo, xin phép mở hội bằng hính thức âm dương, đồng thời tạ ơn các thần đã phù hộ cho một năm gieo trồng được thuận lợi, mưa thuận gió hòa. Sau khi thực hiện xong nghi lễ trình báo các thần, người ta tiến hành hàng loạt nghi lễ liên quan đến việc cầu phúc, cầu mùa. Ở đây tục thờ trời được phản ánh thông qua lễ mời Nàng Hai từ mường trời về ban mùa màng và phúc lành cho dân bản. Ở một số địa phương, lễ hội được kết hợp múa, hát với một bài tế tụng dài miêu tả hành trình của đoàn người trần gian lên mường trời cống hoa và cầu xin các Mẹ Trăng ban phát hạt giống, con giống, triệt phá sâu bọ cho con người.
Lễ hội được tổ chức trên một bãi đất rộng. Dân bản chuẩn bị mâm cúng với các đồ ăn truyền thống như: một chiếc thủ lợn (hoặc gà luộc), hương, vàng mã, xôi, rượu… để đem ra lễ hội.
Lễ hội được mở, người ta chọn một bà mẹ có cuộc sống gia đình hoàn thiện, hát giỏi để làm Mẹ Trăng. Khi hành lễ, Mẹ Trăng tay cầm ngọn mía, trên ngọn mía có treo một túi đựng trầu nhỏ, một chiếc khăn tay, và một bát nước có đặt một lá bưởi. Bát nước và ngọn mía có ý nghĩa tượng trưng cho việc tẩy uế. Hai cô gái chưa chồng đóng hai chị em Trăng, theo sau là sáu hoặc tám cô gái mặc áo chàm, trên đầu cô nào cũng buộc dẻ vải màu đỏ, hoặc màu vàng đóng vai các Nàng Trăng. Hai thiếu niên nam mặc quần áo chàm, trên đầu buộc hai dẻ vải đỏ, ngang hông buộc thắt lưng bằng vải đỏ, mỗi người cầm một cây trúc nhỏ tỉa cành, chỉ để lại mấy cành ở ngọn, trên ngọn buộc một chiếc khăn tay để mở đường cho “Mẹ Trăng” và các “Nàng Trăng” lên trời cầu các Mẹ Trăng xuống giúp trần gian trong các công việc làm ăn.
Dân bản dựng một cái lều, gọi là Lều trăng (Thiêng hai). Lều được lợp rơm, trước lều có các sào treo hoa rừng, bên trong lều có mấy tấm phản dùng làm chỗ ngồi cho Mẹ Trăng và các Nàng Trăng khi làm lễ. Trước khi hành lễ, những người đóng vai Mẹ Trăng và các Nàng Trăng đứng trước bàn thờ để ông Tào làm lễ hóa thân. Theo trình tự, mỗi người hít thở ba lần khói hương để tống khứ linh hồn của người ra khỏi thể xác để linh hồn Mẹ Trăng và các Nàng Trăng nhập vào. Sau lễ nhập hồn, việc hành lễ đón trăng bắt đầu.
Sau lễ đón trăng là lễ cúng Mẹ Trăng. Lễ này diễn ra trong mười hai đêm, mỗi đêm cúng mời một Mẹ Trăng xuống giúp cho dân bản làm ăn. Lễ cúng được miêu tả là cuộc hành trình các Nàng Trăng lên trời đến các cửa của các Mẹ Trăng như cửa mẹ Lạn Ba, mẹ Khắc Cơ, mẹ Bích Lam, mẹ Bích Vân, mẹ Lưỡng Tàm, mẹ Mạ Mỳ.
Sau khi đã cầu hết các cửa, xin các mẹ được đầy đủ các giống cây, con, các điều kiện mưa thuận gió hòa cho việc trồng trọt, chăn nuôi ở trần gian thì dân bản lại tổ chức đưa tiễn Mẹ Trăng về trời. Trước khi ra hành lễ đưa tiễn các Nàng Trăng về trời, Mẹ Trăng và các Nàng Trăng phải làm lễ chia tay trong lều đón trăng ở trong bản, họ hát các bài hát chia tay và vừa đi vừa dùng tay du mạnh những cột lều để cho lều đổ, mục du lều đổ này gọi là mục Trụ trại.
Sau lễ Trụ trại, Mẹ Trăng và các Nàng Trăng ra cầu thần trông coi đầu bản và cuối bản mở cửa cho về trời. Trong lễ tiễn trăng này, thầy Tào làm phép tách vía cho Mẹ Trăng và các Nàng Trăng, gọi hồn vía người ở trần gian nhập lại vào thân xác để trở về làm người trần.
Trong lễ hội Nàng Hai có hiện tượng xuất nhập hồn để mời Mẹ Trăng (Nàng Hai) là một hiện tượng sa man giáo phổ biến của tín ngưỡng nguyên thủy. Tín ngưỡng “Nàng Hai” mang tính bản địa nằm trong hệ thống nghi lễ xuất nhập hồn liên quan đến tín ngưỡng “Nàng” như: Nàng Xáy (Trứng), Nàng Hương (hương đốt), Nàng Cuôi (sọt), Nàng Cằm (cám)
Tín ngưỡng thờ mẹ của người Tày bắt nguồn từ truyền thống coi trọng mẹ sinh sản, tôn trọng mẹ sinh sản. Nữ thần trông coi việc sinh sản được gọi là Mẻ Bjoóc (Mẹ Hoa). Họ cho rằng Mẹ Hoa ở trên trời mới là mẹ đẻ còn mẹ ở trần gian chỉ là người thừa lệnh Mẹ Hoa sinh ra con. Mẹ Hoa được thờ cúng cùng với các nghi lễ gắn với thời kỳ sinh đẻ của sản phụ. Từ truyền thống đó, với tư duy nông nghiệp đề cao vai trò của phụ nữ mà gắn vai trò sinh sản với mẹ nông nghiệp được thể hiện ở hình ảnh Mẹ Trăng. Trăng là một hiện tượng thiên nhiên trong quan niệm dân gian là chủ về nước – thái âm. Lễ hội Nàng Hai với tục thờ Mẹ Trăng là có liên quan đến tục thờ mẹ nói trên.
Tùy từng hình thức và nội dung tổ chức lễ hội cụ thể mà vai trò của Mẹ Trăng được thể hiện khác nhau. Có nơi Mẹ Trăng được đồng nghĩa với Pựt Luông (Phật Lớn), là mẹ cai quản cung Quảng Hàn, trông coi mọi mặt trong đời sống con người. Có nơi Mẹ Trăng đồng nghĩa với Mẹ Hoa bao gồm nhiều mẹ được gọi chung là Mẻ Nàng Hai (Mẹ Nàng Trăng), mỗi mẹ cai quản một mặt trong sản xuất nông nghiệp ở mường trời – mường trăng với các tên gọi như: mẹ Lan Ba, mẹ Khắc Cơ, mẹ Bích Vân, mẹ Mạ Mỳ… Tục cúng hoa và dâng lễ hoa, khao hoa trong hình thức lễ hội này chính là sự phản ánh quan niệm mang hoa lên mường trời cống Mẹ Hoa của người Tày.
Hội Nàng Hai ngân nga với làn điệu dân ca “lượn hai” có sức lôi cuốn con người ta đến lạ kỳ. Nó vừa thể hiện tín ngưỡng dân tộc – tín ngưỡng thờ mẹ, vừa phản ánh nguyện vọng của dân tộc Tày nói riêng và các dân tộc miền núi nói chung trong sự sinh tồn, trong bối cảnh nông thôn miền núi.
Du lịch, GO! - Theo Quehuongonline, Cema
Hội Nàng Hai là lễ hội dân gian đậm màu sắc tâm linh, thể hiện nét sinh hoạt văn hóa mang đậm bản sắc của dân tộc Tày. Đây là lễ hội đặc sắc mang tính diễn xướng tổng hợp – có các bài lượn và bài cúng tế được hát trong suốt quá trình lễ hội. Dù là tên gọi hay hình thức tổ chức nào, lễ hội này thực chất đều mang ý nghĩa mời nàng Hai về ban mùa màng và hạnh phúc cho dân bản. Có thể coi Nàng Hai là lễ hội đặc sắc, tổng hợp các lễ hội của người Tày.
Lễ hội Nàng Hai hay còn gọi là lễ hội Nàng Trăng được tổ chức vào mùa xuân và mùa thu trong phạm vi một xã hoặc nhiều xã dưới nhiều tên gọi như: Hội Trăng, hội mời Nàng Hai (mời Nàng Trăng)… Lễ hội này được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau. Có nơi thiên về bói toán như một số nơi thuộc Bảo Lạc (Cao Bằng), Vị Xuyên (Hà Giang), có nơi thiên về trình diễn đối đáp ban phúc như một số nơi thuộc huyện Thạch An (Cao Bằng), nhiều nơi lại là hình thức cầu mùa như Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Cạn.
Ở hội Nàng Hai, người chủ trì việc cúng tế lễ trình báo, xin phép mở hội bằng hính thức âm dương, đồng thời tạ ơn các thần đã phù hộ cho một năm gieo trồng được thuận lợi, mưa thuận gió hòa. Sau khi thực hiện xong nghi lễ trình báo các thần, người ta tiến hành hàng loạt nghi lễ liên quan đến việc cầu phúc, cầu mùa. Ở đây tục thờ trời được phản ánh thông qua lễ mời Nàng Hai từ mường trời về ban mùa màng và phúc lành cho dân bản. Ở một số địa phương, lễ hội được kết hợp múa, hát với một bài tế tụng dài miêu tả hành trình của đoàn người trần gian lên mường trời cống hoa và cầu xin các Mẹ Trăng ban phát hạt giống, con giống, triệt phá sâu bọ cho con người.
Lễ hội được tổ chức trên một bãi đất rộng. Dân bản chuẩn bị mâm cúng với các đồ ăn truyền thống như: một chiếc thủ lợn (hoặc gà luộc), hương, vàng mã, xôi, rượu… để đem ra lễ hội.
Lễ hội được mở, người ta chọn một bà mẹ có cuộc sống gia đình hoàn thiện, hát giỏi để làm Mẹ Trăng. Khi hành lễ, Mẹ Trăng tay cầm ngọn mía, trên ngọn mía có treo một túi đựng trầu nhỏ, một chiếc khăn tay, và một bát nước có đặt một lá bưởi. Bát nước và ngọn mía có ý nghĩa tượng trưng cho việc tẩy uế. Hai cô gái chưa chồng đóng hai chị em Trăng, theo sau là sáu hoặc tám cô gái mặc áo chàm, trên đầu cô nào cũng buộc dẻ vải màu đỏ, hoặc màu vàng đóng vai các Nàng Trăng. Hai thiếu niên nam mặc quần áo chàm, trên đầu buộc hai dẻ vải đỏ, ngang hông buộc thắt lưng bằng vải đỏ, mỗi người cầm một cây trúc nhỏ tỉa cành, chỉ để lại mấy cành ở ngọn, trên ngọn buộc một chiếc khăn tay để mở đường cho “Mẹ Trăng” và các “Nàng Trăng” lên trời cầu các Mẹ Trăng xuống giúp trần gian trong các công việc làm ăn.
Dân bản dựng một cái lều, gọi là Lều trăng (Thiêng hai). Lều được lợp rơm, trước lều có các sào treo hoa rừng, bên trong lều có mấy tấm phản dùng làm chỗ ngồi cho Mẹ Trăng và các Nàng Trăng khi làm lễ. Trước khi hành lễ, những người đóng vai Mẹ Trăng và các Nàng Trăng đứng trước bàn thờ để ông Tào làm lễ hóa thân. Theo trình tự, mỗi người hít thở ba lần khói hương để tống khứ linh hồn của người ra khỏi thể xác để linh hồn Mẹ Trăng và các Nàng Trăng nhập vào. Sau lễ nhập hồn, việc hành lễ đón trăng bắt đầu.
Sau lễ đón trăng là lễ cúng Mẹ Trăng. Lễ này diễn ra trong mười hai đêm, mỗi đêm cúng mời một Mẹ Trăng xuống giúp cho dân bản làm ăn. Lễ cúng được miêu tả là cuộc hành trình các Nàng Trăng lên trời đến các cửa của các Mẹ Trăng như cửa mẹ Lạn Ba, mẹ Khắc Cơ, mẹ Bích Lam, mẹ Bích Vân, mẹ Lưỡng Tàm, mẹ Mạ Mỳ.Sau khi đã cầu hết các cửa, xin các mẹ được đầy đủ các giống cây, con, các điều kiện mưa thuận gió hòa cho việc trồng trọt, chăn nuôi ở trần gian thì dân bản lại tổ chức đưa tiễn Mẹ Trăng về trời. Trước khi ra hành lễ đưa tiễn các Nàng Trăng về trời, Mẹ Trăng và các Nàng Trăng phải làm lễ chia tay trong lều đón trăng ở trong bản, họ hát các bài hát chia tay và vừa đi vừa dùng tay du mạnh những cột lều để cho lều đổ, mục du lều đổ này gọi là mục Trụ trại.
Sau lễ Trụ trại, Mẹ Trăng và các Nàng Trăng ra cầu thần trông coi đầu bản và cuối bản mở cửa cho về trời. Trong lễ tiễn trăng này, thầy Tào làm phép tách vía cho Mẹ Trăng và các Nàng Trăng, gọi hồn vía người ở trần gian nhập lại vào thân xác để trở về làm người trần.
Trong lễ hội Nàng Hai có hiện tượng xuất nhập hồn để mời Mẹ Trăng (Nàng Hai) là một hiện tượng sa man giáo phổ biến của tín ngưỡng nguyên thủy. Tín ngưỡng “Nàng Hai” mang tính bản địa nằm trong hệ thống nghi lễ xuất nhập hồn liên quan đến tín ngưỡng “Nàng” như: Nàng Xáy (Trứng), Nàng Hương (hương đốt), Nàng Cuôi (sọt), Nàng Cằm (cám)
Tín ngưỡng thờ mẹ của người Tày bắt nguồn từ truyền thống coi trọng mẹ sinh sản, tôn trọng mẹ sinh sản. Nữ thần trông coi việc sinh sản được gọi là Mẻ Bjoóc (Mẹ Hoa). Họ cho rằng Mẹ Hoa ở trên trời mới là mẹ đẻ còn mẹ ở trần gian chỉ là người thừa lệnh Mẹ Hoa sinh ra con. Mẹ Hoa được thờ cúng cùng với các nghi lễ gắn với thời kỳ sinh đẻ của sản phụ. Từ truyền thống đó, với tư duy nông nghiệp đề cao vai trò của phụ nữ mà gắn vai trò sinh sản với mẹ nông nghiệp được thể hiện ở hình ảnh Mẹ Trăng. Trăng là một hiện tượng thiên nhiên trong quan niệm dân gian là chủ về nước – thái âm. Lễ hội Nàng Hai với tục thờ Mẹ Trăng là có liên quan đến tục thờ mẹ nói trên.
Tùy từng hình thức và nội dung tổ chức lễ hội cụ thể mà vai trò của Mẹ Trăng được thể hiện khác nhau. Có nơi Mẹ Trăng được đồng nghĩa với Pựt Luông (Phật Lớn), là mẹ cai quản cung Quảng Hàn, trông coi mọi mặt trong đời sống con người. Có nơi Mẹ Trăng đồng nghĩa với Mẹ Hoa bao gồm nhiều mẹ được gọi chung là Mẻ Nàng Hai (Mẹ Nàng Trăng), mỗi mẹ cai quản một mặt trong sản xuất nông nghiệp ở mường trời – mường trăng với các tên gọi như: mẹ Lan Ba, mẹ Khắc Cơ, mẹ Bích Vân, mẹ Mạ Mỳ… Tục cúng hoa và dâng lễ hoa, khao hoa trong hình thức lễ hội này chính là sự phản ánh quan niệm mang hoa lên mường trời cống Mẹ Hoa của người Tày.
Hội Nàng Hai ngân nga với làn điệu dân ca “lượn hai” có sức lôi cuốn con người ta đến lạ kỳ. Nó vừa thể hiện tín ngưỡng dân tộc – tín ngưỡng thờ mẹ, vừa phản ánh nguyện vọng của dân tộc Tày nói riêng và các dân tộc miền núi nói chung trong sự sinh tồn, trong bối cảnh nông thôn miền núi.
Du lịch, GO! - Theo Quehuongonline, Cema
Thứ Bảy, 28 tháng 5, 2011
Ra đi đội cả bầu trời đất nung
Năm chỉ một mùa: nắng và gió. Gió thổi rát da và nắng cháy sém tóc. Panduranga, Phan Rang, cái tên đọc lên đã đủ sức gợi về miền khô khan gió cát. Ở xứ ấy, đàn bà đội cả bầu trời đất nung...
1. Bàn tay người phụ nữ vẫn vuốt mềm mại trên nư gốm. Và một cuộc đời từ những bé gái rồi thiếu nữ, rồi đàn bà, rồi cụ già Chăm là những bước chân xoay quanh những chiếc lu, bình cũ, soi tìm bóng dáng và ý nghĩa đời sống của mình qua nắm đất xứ sở. Thế giới ấy, những đứa trẻ cất tiếng khóc chào đời cùng tiếng nổ lách tách của lò nung đất, rồi thân phận cũng như những giả gốm kia, chịu hoả biến trong lò nung, vần xoay cùng thế cuộc.
Những buổi sáng, tiếng rao gốm của những người già cất lên cuối ngõ cùng những cộ bò đôi đủng đỉnh chở những xe gốm nặng ra chợ.
Gió sớm lướt trên những mặt gốm trên những ngón tay mềm ướt của những cô gái nối chân nhau xuống bến múc nước. Họ đi qua những ngọn đồi cát trắng hay những bờ đê cỏ mượt, buổi mai gió từ biển vào thổi bay đi mùi da thịt, mùi tiếng cười, mùi mồ hôi và thổi bay những xiêm y lung linh.
Một năm một mùa nắng gió. Những đường thổ cẩm vẫn trôi đều trên khung dệt. Những đường hoa văn nối kết, xâu chuỗi thời gian, nối nắng gió từ những tháng gần với năm xa, buộc quá vãng và tương lai lại trong từng nét phác giản dị trên từng bàn tay khéo léo, mềm mại.
Sớm mai, những cô gái lại quấn lên mình hoa văn ấy mà đi hội, những người già lại quấn lên đầu những dải khăn đỏ và bước lên ngọn tháp thành kính để tạ ơn Pô Klong Giarai hay Pô Rômê, tạ ơn xứ sở đã sinh thành và nuôi dưỡng cộng đồng. Những vị vua, những “thành hoàng” có công dẫn thuỷ nhập điền, phát triển lành nghề được hợp nhất trong hình ảnh thần linh tôn giáo (Shiva của Bàlamôn và Alla của đạo Hồi), rồi tất cả hội tụ trong biểu tượng sinh thực khí Linga-Yoni của tư duy lưỡng lập Đông phương mà chi phối tâm linh của cộng đồng.
Người Chăm có trên 72 điệu trống và hàng trăm vũ điệu phục vụ lễ hội. Hình ảnh Ong Mưdwơn (nghệ nhân) ôm Baranưng vỗ và hát vào lễ Katê hay Rija trong những vũ điệu xập xoè suốt mùa hội của Chiêm nữ trở nên biểu tượng sống động cho một nền văn hoá tâm linh đặc sắc bên cạnh kiến trúc và văn học dân gian đang ngày càng bị bào mòn, thất thoát, phế tích bởi thời gian.
2. Vây quanh mùa màng là lễ hội. Những mùa hội Katê, Ramưwan, tiếng kèn Kanhi, Saranai của những nghệ nhân cuối cùng cứ bay chơi vơi cùng nắng gió trên đỉnh tháp. Tháp là người mẹ tâm linh chở che đàn con là cộng đồng quanh năm trầy trật đối diện những khắc nghiệt thời tiết và đời sống.
Cái nắng tung tẩy những sắc màu xiêm áo, cái gió thổi lừng mùi khói hương thành kính và những điệu múa quạt, múa xoè, múa roi của những cô gái, chàng trai Chăm. Đêm vãn hội, mắt người già sâu hốc, đăm chiêu nhìn những đốm lửa lò nung, hoài cổ. Rồi những đêm Chăm sẽ nối những đêm Chăm, lung linh trong những chiêm bao tôi là vệt nắng khuya đất này.
Đêm Chăm vỡ vạc những giấc mơ gạch nung từ miền thời gian nào đó xa lắc...
3. Những thắng klu (con trai) lớn lên cùng với những đồi gió cát và nắng, da đen nhẻm, mông quen trầy xước vì trượt trên những cộ bò, bàn đá và mắt hồn nhiên sâu thẳm như những thiên thần viễn xứ làm người.
Có hôm nào đó, trong nụ cười khúc khích của những thiếu nữ, tôi lạc vào một đám thiêu. Một đám thiêu là một lễ hội. Người ta có thể ăn chơi nhảy múa và hát ca hành lễ, đưa người chết ba năm lên lại mặt đất rồi nhờ lửa đốt cháy tất cả, rồi cắt từ xương trán, nam bảy miếng tròn, nữ chín miếng tròn, nhập cút (vò bằng gốm) rồi chôn cùng với dòng họ mẹ.
Những người đàn ông Chăm quanh năm sống trong vòng gìn giữ của vợ, yên phận với vùng văn hoá nặng âm tính, mẫu hệ đến lúc chết vẫn chờ mong về với nhà của mẹ, nằm bên cạnh mẹ mình. Tôi nhớ anh bạn trí thức trong làng Chăm.
Chỉ vì bị nghi ngờ dính líu với một nhân tình mà anh bị đuổi ra khỏi nhà. Ra đi, anh chỉ mang theo một cây rựa và thề với thần cổng rằng sẽ không trở lại ngôi nhà với những ràng rịt họ hàng và điều tiếng phía vợ nữa, sẽ không nhìn mặt con mình nữa. Anh về nằm với người mẹ già bị điếc và lẫn, chẳng còn nhớ gì.
Anh ngủ với mẹ già cho đến khi bà qua đời. Ba năm trôi qua, bụi tro của người mẹ anh được rải xuống sông. Trong cái nắng như nung, những bụi tro hoà vào con sông xanh thao thiết, bọn trẻ con đang tắm, giỡn nước với lũ trâu hạ nguồn sẽ uống bụi tro ấy, uống vào mình mùn đất tâm linh ngàn đời mà lớn lên, da sạm đen, tóc sém nắng và môi thâm sì, ý nghĩ bay bổng sương khói chống lại cái nghiệt ngã nắng gió xứ sở...
Người phụ nữ Chăm dạy đứa con nghịch rằng: Nếu mày không nghe lời thì phải chui lại vào bụng của tao! Chui lại vào bụng để một lần nữa tái sinh và được nuôi dưỡng, bao dung... Và trước một đám thiêu nơi cửa rừng, tôi nhận ra, hình như đến chết rồi, những phụ nữ Chăm vẫn đội trên đầu mình một thế giới như mang vác một sứ mệnh gìn giữ cộng đồng dù sinh thời, trong đời sống cộng đồng mẫu hệ, âm tính, chính họ phải gánh vác quá nhiều những lao nhọc từ lao động đến danh phận rường cột thay cho những người đàn ông. Cái vò đất nung trên đầu họ làm cho bóng họ in lên đất đai xứ sở những nhọc nhằn dưới nắng gió ngặt nghèo!
Và ban mai lại về trên miền nắng. Mặt trời chói gắt từ trước tiếng gà gáy. Lại bắt đầu từ bước chân những Chiêm nữ đội vò đi qua đồi. Những Chiêm nữ đội cả bầu trời đất nung mà đi. Hình ảnh ấy chỉ nở ra với nắng, gió và bụi mù. Những quãng đồng rộng, hơi nước từ đất bị mặt trời hong khô, bốc lên chờn vờn mặt đất, khiến những hình ảnh kia lung linh và huyền ảo bủa vây quanh xứ sở này. Cái đẹp ấy như thực, như hư trước lốc gió thời gian cuộn xiết!
Du lịch, GO! - Theo Sài Gòn Tiếp Thị
Người Chăm còn có tên gọi là Chàm, Chiêm, Chiêm Thành, Chăm Pa, Hroi… sống tập trung ở Ninh Thuận và Bình Thuận. Ngoài ra ở một số nơi như An Giang, Tây Ninh, Đồng Nai, Phú Yên, thành phố Hồ Chí Minh cũng có một phần dân cư là người Chăm.
Đồng bào Chăm sống ở đồng bằng, có truyền thống sản xuất lúa nước là chính. Kỹ thuật thâm canh lúa nước bằng các biện pháp giống, phân bón, thủy lợi khá thành thạo. Đồng bào Chăm biết buôn bán. Hai nghề thủ công nổi tiếng là đồ gốm và dệt vải sợi bông.Trước kia, người Chăm không trồng cây trong làng.
1. Bàn tay người phụ nữ vẫn vuốt mềm mại trên nư gốm. Và một cuộc đời từ những bé gái rồi thiếu nữ, rồi đàn bà, rồi cụ già Chăm là những bước chân xoay quanh những chiếc lu, bình cũ, soi tìm bóng dáng và ý nghĩa đời sống của mình qua nắm đất xứ sở. Thế giới ấy, những đứa trẻ cất tiếng khóc chào đời cùng tiếng nổ lách tách của lò nung đất, rồi thân phận cũng như những giả gốm kia, chịu hoả biến trong lò nung, vần xoay cùng thế cuộc.
Những buổi sáng, tiếng rao gốm của những người già cất lên cuối ngõ cùng những cộ bò đôi đủng đỉnh chở những xe gốm nặng ra chợ.
Gió sớm lướt trên những mặt gốm trên những ngón tay mềm ướt của những cô gái nối chân nhau xuống bến múc nước. Họ đi qua những ngọn đồi cát trắng hay những bờ đê cỏ mượt, buổi mai gió từ biển vào thổi bay đi mùi da thịt, mùi tiếng cười, mùi mồ hôi và thổi bay những xiêm y lung linh.
Một năm một mùa nắng gió. Những đường thổ cẩm vẫn trôi đều trên khung dệt. Những đường hoa văn nối kết, xâu chuỗi thời gian, nối nắng gió từ những tháng gần với năm xa, buộc quá vãng và tương lai lại trong từng nét phác giản dị trên từng bàn tay khéo léo, mềm mại.
Sớm mai, những cô gái lại quấn lên mình hoa văn ấy mà đi hội, những người già lại quấn lên đầu những dải khăn đỏ và bước lên ngọn tháp thành kính để tạ ơn Pô Klong Giarai hay Pô Rômê, tạ ơn xứ sở đã sinh thành và nuôi dưỡng cộng đồng. Những vị vua, những “thành hoàng” có công dẫn thuỷ nhập điền, phát triển lành nghề được hợp nhất trong hình ảnh thần linh tôn giáo (Shiva của Bàlamôn và Alla của đạo Hồi), rồi tất cả hội tụ trong biểu tượng sinh thực khí Linga-Yoni của tư duy lưỡng lập Đông phương mà chi phối tâm linh của cộng đồng.
Người Chăm có trên 72 điệu trống và hàng trăm vũ điệu phục vụ lễ hội. Hình ảnh Ong Mưdwơn (nghệ nhân) ôm Baranưng vỗ và hát vào lễ Katê hay Rija trong những vũ điệu xập xoè suốt mùa hội của Chiêm nữ trở nên biểu tượng sống động cho một nền văn hoá tâm linh đặc sắc bên cạnh kiến trúc và văn học dân gian đang ngày càng bị bào mòn, thất thoát, phế tích bởi thời gian.
2. Vây quanh mùa màng là lễ hội. Những mùa hội Katê, Ramưwan, tiếng kèn Kanhi, Saranai của những nghệ nhân cuối cùng cứ bay chơi vơi cùng nắng gió trên đỉnh tháp. Tháp là người mẹ tâm linh chở che đàn con là cộng đồng quanh năm trầy trật đối diện những khắc nghiệt thời tiết và đời sống.
Cái nắng tung tẩy những sắc màu xiêm áo, cái gió thổi lừng mùi khói hương thành kính và những điệu múa quạt, múa xoè, múa roi của những cô gái, chàng trai Chăm. Đêm vãn hội, mắt người già sâu hốc, đăm chiêu nhìn những đốm lửa lò nung, hoài cổ. Rồi những đêm Chăm sẽ nối những đêm Chăm, lung linh trong những chiêm bao tôi là vệt nắng khuya đất này.
Đêm Chăm vỡ vạc những giấc mơ gạch nung từ miền thời gian nào đó xa lắc...
3. Những thắng klu (con trai) lớn lên cùng với những đồi gió cát và nắng, da đen nhẻm, mông quen trầy xước vì trượt trên những cộ bò, bàn đá và mắt hồn nhiên sâu thẳm như những thiên thần viễn xứ làm người.
Có hôm nào đó, trong nụ cười khúc khích của những thiếu nữ, tôi lạc vào một đám thiêu. Một đám thiêu là một lễ hội. Người ta có thể ăn chơi nhảy múa và hát ca hành lễ, đưa người chết ba năm lên lại mặt đất rồi nhờ lửa đốt cháy tất cả, rồi cắt từ xương trán, nam bảy miếng tròn, nữ chín miếng tròn, nhập cút (vò bằng gốm) rồi chôn cùng với dòng họ mẹ.
Những người đàn ông Chăm quanh năm sống trong vòng gìn giữ của vợ, yên phận với vùng văn hoá nặng âm tính, mẫu hệ đến lúc chết vẫn chờ mong về với nhà của mẹ, nằm bên cạnh mẹ mình. Tôi nhớ anh bạn trí thức trong làng Chăm.
Chỉ vì bị nghi ngờ dính líu với một nhân tình mà anh bị đuổi ra khỏi nhà. Ra đi, anh chỉ mang theo một cây rựa và thề với thần cổng rằng sẽ không trở lại ngôi nhà với những ràng rịt họ hàng và điều tiếng phía vợ nữa, sẽ không nhìn mặt con mình nữa. Anh về nằm với người mẹ già bị điếc và lẫn, chẳng còn nhớ gì.
Anh ngủ với mẹ già cho đến khi bà qua đời. Ba năm trôi qua, bụi tro của người mẹ anh được rải xuống sông. Trong cái nắng như nung, những bụi tro hoà vào con sông xanh thao thiết, bọn trẻ con đang tắm, giỡn nước với lũ trâu hạ nguồn sẽ uống bụi tro ấy, uống vào mình mùn đất tâm linh ngàn đời mà lớn lên, da sạm đen, tóc sém nắng và môi thâm sì, ý nghĩ bay bổng sương khói chống lại cái nghiệt ngã nắng gió xứ sở...
Người phụ nữ Chăm dạy đứa con nghịch rằng: Nếu mày không nghe lời thì phải chui lại vào bụng của tao! Chui lại vào bụng để một lần nữa tái sinh và được nuôi dưỡng, bao dung... Và trước một đám thiêu nơi cửa rừng, tôi nhận ra, hình như đến chết rồi, những phụ nữ Chăm vẫn đội trên đầu mình một thế giới như mang vác một sứ mệnh gìn giữ cộng đồng dù sinh thời, trong đời sống cộng đồng mẫu hệ, âm tính, chính họ phải gánh vác quá nhiều những lao nhọc từ lao động đến danh phận rường cột thay cho những người đàn ông. Cái vò đất nung trên đầu họ làm cho bóng họ in lên đất đai xứ sở những nhọc nhằn dưới nắng gió ngặt nghèo!
Và ban mai lại về trên miền nắng. Mặt trời chói gắt từ trước tiếng gà gáy. Lại bắt đầu từ bước chân những Chiêm nữ đội vò đi qua đồi. Những Chiêm nữ đội cả bầu trời đất nung mà đi. Hình ảnh ấy chỉ nở ra với nắng, gió và bụi mù. Những quãng đồng rộng, hơi nước từ đất bị mặt trời hong khô, bốc lên chờn vờn mặt đất, khiến những hình ảnh kia lung linh và huyền ảo bủa vây quanh xứ sở này. Cái đẹp ấy như thực, như hư trước lốc gió thời gian cuộn xiết!
Du lịch, GO! - Theo Sài Gòn Tiếp Thị
Người Chăm còn có tên gọi là Chàm, Chiêm, Chiêm Thành, Chăm Pa, Hroi… sống tập trung ở Ninh Thuận và Bình Thuận. Ngoài ra ở một số nơi như An Giang, Tây Ninh, Đồng Nai, Phú Yên, thành phố Hồ Chí Minh cũng có một phần dân cư là người Chăm.
Đồng bào Chăm sống ở đồng bằng, có truyền thống sản xuất lúa nước là chính. Kỹ thuật thâm canh lúa nước bằng các biện pháp giống, phân bón, thủy lợi khá thành thạo. Đồng bào Chăm biết buôn bán. Hai nghề thủ công nổi tiếng là đồ gốm và dệt vải sợi bông.Trước kia, người Chăm không trồng cây trong làng.
Thứ Tư, 11 tháng 5, 2011
Ngắm sơn nữ ở chợ tình
Chợ tình Khau Vai, phiên chợ tình độc đáo trên miền đá núi Hà Giang đã khép lại, nhưng khách phương xa sẽ không thể quên được ánh mắt, nụ cười của những thiếu nữ vùng cao.
< Vẻ đẹp rực rỡ, kiêu sa như đóa hoa rừng.
Truyền thuyết kể rằng, ngày xưa ở vùng Khau Vai có chàng Ba người Nùng và cô con gái út người tộc trưởng Giấy yêu nhau tha thiết. Mối tình của họ bị ngăn trở và là nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn giữa hai dòng tộc.
< Những cô gái này đã phải đi bộ nhiều cây số để đến chợ tình.
Không muốn hai gia đình thù hận...hai người đã gạt nước mắt, chia tay nhau nhưng hẹn kiếp sau sẽ nên chồng vợ và hàng năm cứ đúng ngày chia tay này sẽ tìm về gặp lại nhau tại núi Khau Vai... Ngày họ chia tay là ngày 27/3 âm lịch.
Những cô gái vùng cao đã sửa soạn nhiều ngày trời để đến phiên chợ tình. Họ mặc những trang phục đẹp nhất của người Mông, người Dao, người Tày, Nùng… khiến cả phiên chợ cứ rực lên như rừng hoa.

< Lúc nào cũng bẽn lẽn trước ống kính máy ảnh.
Họ đến với chợ tình để chuyện trò sau những ngày dài quẩn quanh trên đỉnh núi mù sương, đến với chợ tình để tìm bạn tình.
< Họ mang trên mình những bộ trang phục đặc trưng của dân tộc mình.
< Nụ cười giữa phiên chợ.
< Ánh mắt nhìn xa xăm như hút hồn kẻ lãng du.
< Niềm vui về chợ.
< Những chàng trai, cô gái rúc rích bên chiếc điện thoại.
< Đến chợ tình để trò chuyện sau những ngày lên nương lên rẫy
< Nghe người tình thổi khúc khèn Mông.
< Sau đêm nay sẽ có nhiều thiếu nữ tìm được người yêu...
Và vẻ đẹp của người thiếu nữ vùng cao có gì đó e ấp như sương núi, mộc mạc như đóa ban rừng nhưng không khỏi hút hồn lữ khách bởi ánh nhìn xa xăm…
Du lịch, GO! - Theo Vietnamnet
< Vẻ đẹp rực rỡ, kiêu sa như đóa hoa rừng.
Truyền thuyết kể rằng, ngày xưa ở vùng Khau Vai có chàng Ba người Nùng và cô con gái út người tộc trưởng Giấy yêu nhau tha thiết. Mối tình của họ bị ngăn trở và là nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn giữa hai dòng tộc.
< Những cô gái này đã phải đi bộ nhiều cây số để đến chợ tình.
Không muốn hai gia đình thù hận...hai người đã gạt nước mắt, chia tay nhau nhưng hẹn kiếp sau sẽ nên chồng vợ và hàng năm cứ đúng ngày chia tay này sẽ tìm về gặp lại nhau tại núi Khau Vai... Ngày họ chia tay là ngày 27/3 âm lịch.
Những cô gái vùng cao đã sửa soạn nhiều ngày trời để đến phiên chợ tình. Họ mặc những trang phục đẹp nhất của người Mông, người Dao, người Tày, Nùng… khiến cả phiên chợ cứ rực lên như rừng hoa.
< Lúc nào cũng bẽn lẽn trước ống kính máy ảnh.
Họ đến với chợ tình để chuyện trò sau những ngày dài quẩn quanh trên đỉnh núi mù sương, đến với chợ tình để tìm bạn tình.
< Họ mang trên mình những bộ trang phục đặc trưng của dân tộc mình.
< Nụ cười giữa phiên chợ.
< Ánh mắt nhìn xa xăm như hút hồn kẻ lãng du.
< Niềm vui về chợ.
< Những chàng trai, cô gái rúc rích bên chiếc điện thoại.
< Đến chợ tình để trò chuyện sau những ngày lên nương lên rẫy
< Nghe người tình thổi khúc khèn Mông.
< Sau đêm nay sẽ có nhiều thiếu nữ tìm được người yêu...
Và vẻ đẹp của người thiếu nữ vùng cao có gì đó e ấp như sương núi, mộc mạc như đóa ban rừng nhưng không khỏi hút hồn lữ khách bởi ánh nhìn xa xăm…
Du lịch, GO! - Theo Vietnamnet
Thứ Hai, 2 tháng 5, 2011
Vùng đất giàu truyền thuyết
Thượng Lâm (Na Hang, Tuyên Quang) là vùng đất có nhiều truyền thuyết, vùng đất sơn thủy hữu tình với nhiều danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, văn hóa.
Từ thị trấn Na Hang ngược lên phía bắc khoảng 30 km là đến đất Thượng Lâm. Ai mới lên lần đầu hẳn sẽ ngạc nhiên khi trước mắt là điệp trùng những ngọn núi mồ côi trên khắp cánh đồng. Nhìn kỹ một chút, có thể nhận ra nhiều ngọn núi mang hình dáng kỳ lạ, và hoàn toàn tự nhiên như: hình cô Tiên chú khách; hình Lưỡng long tranh châu; đàn rùa xuống núi; cờ lau khởi nghĩa... và trên hết là truyền thuyết 100 con chim phượng hoàng được nhà vua phái đi chọn đất đóng đô.
Chuyện kể rằng xưa kia Thượng Lâm vốn là vùng đất bằng phẳng, đồng ruộng tốt tươi, có đông người định cư làm ăn sinh sống. Vùng đất Bảo Lạc, Bảo Lâm (Cao Bằng) lại thấp trũng, nhiều sông ngòi nên cuộc sống của người dân ở đó rất cơ cực.
Bấy giờ, có chàng khổng lồ tên là Pác Tạ thương dân vùng trũng mới đi lên vùng Ðồng Văn, Mèo Vạc (Hà Giang) gánh đá về lấp bớt sông ngòi cho người dân có chỗ làm nhà ở. Chàng Pác Tạ gánh đá qua vùng Thượng Lâm làm rơi những viên đá xuống, hình thành những ngọn núi mồ côi như hiện nay.
Truyền thuyết mà người dân ở Thượng Lâm thường kể cho con cháu về sự tích 99 ngọn núi được gắn thêm màu sắc huyền thoại. Vào thời Hùng Vương, nhà vua muốn tìm đất tốt để đóng đô mới sai quan quân mang đàn chim phượng hoàng 100 con đi khắp nơi chọn đất. Ðến Thượng Lâm, đàn chim bỗng dừng lại, mỗi con đậu xuống một ngọn núi. Thấy chim bay rợp trời tìm chốn đậu, quan quân cả mừng những tưởng đã hoàn thành sứ mệnh vua ban. Không ngờ, khi các ngọn núi đã kín chỗ vẫn còn một con chim phượng bay lượn trên bầu trời. Thấy vậy, cả đàn chim lại vỗ cánh bay đi.

Ðất Thượng Lâm dù không được thành nơi đô hội nhưng bù lại từ đó con gái nơi đây mới sinh ra đã đẹp như tranh.
Ðẹp đến độ mà con trai các vùng khác ai cũng phải cố đến Thượng Lâm một lần rồi mới về lấy vợ. Ðến làm gì, cũng chẳng có ai biết, cũng không ai hỏi. Cũng chỉ nghe kể lại có người trai đến đây, bất chợt nhìn con gái cười mà ngơ ngẩn mất cả tháng trời...
Ðến Thượng Lâm, du khách có thể tham quan du lịch lòng hồ Thủy điện Na Hang xuất phát từ bến Thượng Lâm. Nơi đây được ví như một Hạ Long trên núi với điệp trùng núi đá, nhiều hang động và một vùng lòng hồ mênh mông chứa nhiều sản vật quý như cá lăng tiến vua, cua đá mai vàng...
Và tất nhiên là cả những món ăn đặc sản mang đầy hương vị núi rừng của đồng bào dân tộc thiểu số nơi đây như măng rừng, gà đen, lợn 'cắp nách', dê núi đá...
Không chỉ có vậy, đất Thượng Lâm hiện vẫn còn có ngôi chùa Phúc Lâm được khởi dựng ở thời nhà Trần lựa chọn Phật giáo làm hệ tư tưởng chính thống. Qua nghiên cứu các di vật lịch sử hiện còn lưu giữ tại chùa, như tảng kê chân cột bằng đá xanh, mảng trang trí vật liệu kiến trúc bằng đất nung, bình đồ kiến trúc của ngôi chùa xưa, các mảnh tháp đất nung cùng hệ thống tượng thờ độc đáo... cho phép khẳng định, ngôi chùa Phúc Lâm mang phong cách kiến trúc và nghệ thuật điêu khắc từ thời Trần (thế kỷ 13 - 14) và trải qua nhiều thời kỳ tồn tại cho tới các giai đoạn sau này.
Di tích Xưởng Quân khí H52 và địa điểm sản xuất diêm tiêu (xã Năng Khả) là hai cơ sở trọng yếu khai thác và sản xuất diêm tiêu phục vụ kháng chiến chống Pháp giai đoạn từ năm 1950 đến 1954, nơi có vị trí bảo đảm bí mật, an toàn, là nơi có nguồn nguyên liệu dồi dào để sản xuất diêm tiêu thô và than củi. Xưởng Quân khí H52 do đồng chí Ngô Gia Khảm làm giám đốc, chuyên sản xuất diêm tiêu làm thuốc súng (còn gọi là thuốc đen) đã đáp ứng một phần chế tạo vũ khí như lựu đạn, mìn, thuốc phóng, dây cháy chậm, pháo hiệu phục vụ chiến trường.
Ngoài những thắng cảnh, di tích nằm trên đất Thượng Lâm, các địa phương chung quanh đây còn có nhiều địa chỉ khác mang nhiều giá trị về khảo cổ, du lịch, lịch sử như: Di tích Cơ quan Ấn loát đặc biệt Trung ương (xã Năng Khả); thắng cảnh thác Nặm Me, động Song Long, di tích hang Phia Vài (xã Khuôn Hà); di tích hang Phia Muồn (xã Sơn Phú); đền Pác Tạ (thị trấn Na Hang)...
Du ;ịch, GO! - Theo Nhandan
Từ thị trấn Na Hang ngược lên phía bắc khoảng 30 km là đến đất Thượng Lâm. Ai mới lên lần đầu hẳn sẽ ngạc nhiên khi trước mắt là điệp trùng những ngọn núi mồ côi trên khắp cánh đồng. Nhìn kỹ một chút, có thể nhận ra nhiều ngọn núi mang hình dáng kỳ lạ, và hoàn toàn tự nhiên như: hình cô Tiên chú khách; hình Lưỡng long tranh châu; đàn rùa xuống núi; cờ lau khởi nghĩa... và trên hết là truyền thuyết 100 con chim phượng hoàng được nhà vua phái đi chọn đất đóng đô.
Chuyện kể rằng xưa kia Thượng Lâm vốn là vùng đất bằng phẳng, đồng ruộng tốt tươi, có đông người định cư làm ăn sinh sống. Vùng đất Bảo Lạc, Bảo Lâm (Cao Bằng) lại thấp trũng, nhiều sông ngòi nên cuộc sống của người dân ở đó rất cơ cực.
Bấy giờ, có chàng khổng lồ tên là Pác Tạ thương dân vùng trũng mới đi lên vùng Ðồng Văn, Mèo Vạc (Hà Giang) gánh đá về lấp bớt sông ngòi cho người dân có chỗ làm nhà ở. Chàng Pác Tạ gánh đá qua vùng Thượng Lâm làm rơi những viên đá xuống, hình thành những ngọn núi mồ côi như hiện nay.
Truyền thuyết mà người dân ở Thượng Lâm thường kể cho con cháu về sự tích 99 ngọn núi được gắn thêm màu sắc huyền thoại. Vào thời Hùng Vương, nhà vua muốn tìm đất tốt để đóng đô mới sai quan quân mang đàn chim phượng hoàng 100 con đi khắp nơi chọn đất. Ðến Thượng Lâm, đàn chim bỗng dừng lại, mỗi con đậu xuống một ngọn núi. Thấy chim bay rợp trời tìm chốn đậu, quan quân cả mừng những tưởng đã hoàn thành sứ mệnh vua ban. Không ngờ, khi các ngọn núi đã kín chỗ vẫn còn một con chim phượng bay lượn trên bầu trời. Thấy vậy, cả đàn chim lại vỗ cánh bay đi.
Ðất Thượng Lâm dù không được thành nơi đô hội nhưng bù lại từ đó con gái nơi đây mới sinh ra đã đẹp như tranh.
Ðẹp đến độ mà con trai các vùng khác ai cũng phải cố đến Thượng Lâm một lần rồi mới về lấy vợ. Ðến làm gì, cũng chẳng có ai biết, cũng không ai hỏi. Cũng chỉ nghe kể lại có người trai đến đây, bất chợt nhìn con gái cười mà ngơ ngẩn mất cả tháng trời...
Ðến Thượng Lâm, du khách có thể tham quan du lịch lòng hồ Thủy điện Na Hang xuất phát từ bến Thượng Lâm. Nơi đây được ví như một Hạ Long trên núi với điệp trùng núi đá, nhiều hang động và một vùng lòng hồ mênh mông chứa nhiều sản vật quý như cá lăng tiến vua, cua đá mai vàng...
Và tất nhiên là cả những món ăn đặc sản mang đầy hương vị núi rừng của đồng bào dân tộc thiểu số nơi đây như măng rừng, gà đen, lợn 'cắp nách', dê núi đá...
Không chỉ có vậy, đất Thượng Lâm hiện vẫn còn có ngôi chùa Phúc Lâm được khởi dựng ở thời nhà Trần lựa chọn Phật giáo làm hệ tư tưởng chính thống. Qua nghiên cứu các di vật lịch sử hiện còn lưu giữ tại chùa, như tảng kê chân cột bằng đá xanh, mảng trang trí vật liệu kiến trúc bằng đất nung, bình đồ kiến trúc của ngôi chùa xưa, các mảnh tháp đất nung cùng hệ thống tượng thờ độc đáo... cho phép khẳng định, ngôi chùa Phúc Lâm mang phong cách kiến trúc và nghệ thuật điêu khắc từ thời Trần (thế kỷ 13 - 14) và trải qua nhiều thời kỳ tồn tại cho tới các giai đoạn sau này.
Di tích Xưởng Quân khí H52 và địa điểm sản xuất diêm tiêu (xã Năng Khả) là hai cơ sở trọng yếu khai thác và sản xuất diêm tiêu phục vụ kháng chiến chống Pháp giai đoạn từ năm 1950 đến 1954, nơi có vị trí bảo đảm bí mật, an toàn, là nơi có nguồn nguyên liệu dồi dào để sản xuất diêm tiêu thô và than củi. Xưởng Quân khí H52 do đồng chí Ngô Gia Khảm làm giám đốc, chuyên sản xuất diêm tiêu làm thuốc súng (còn gọi là thuốc đen) đã đáp ứng một phần chế tạo vũ khí như lựu đạn, mìn, thuốc phóng, dây cháy chậm, pháo hiệu phục vụ chiến trường.
Ngoài những thắng cảnh, di tích nằm trên đất Thượng Lâm, các địa phương chung quanh đây còn có nhiều địa chỉ khác mang nhiều giá trị về khảo cổ, du lịch, lịch sử như: Di tích Cơ quan Ấn loát đặc biệt Trung ương (xã Năng Khả); thắng cảnh thác Nặm Me, động Song Long, di tích hang Phia Vài (xã Khuôn Hà); di tích hang Phia Muồn (xã Sơn Phú); đền Pác Tạ (thị trấn Na Hang)...
Du ;ịch, GO! - Theo Nhandan
Thứ Bảy, 9 tháng 4, 2011
Quyến rũ đêm xuân bản Thái
Mùa xuân, khi rừng hoa ban, hoa mai, rừng đào phai nở trắng núi, duyên dáng thả mình xuống con suối trong veo là lúc các bản làng Thái ở vùng cao trở nên nhộn nhịp, rộn ràng hơn.
Tôi gặp cô gái Thái tên Lò Nương trong một chợ phiên nhỏ ở Bản Panh (Sơn La) vào một ngày giáp Tết, cách đây chừng hai, ba năm. Lò Nương có dáng vóc nhỏ nhắn, trắng trẻo, khác hẳn sự miêu tả của nhiều người về thôn nữ vùng cao. Phút ban đầu e lệ nhanh chóng qua đi, Lò Nương vui vẻ dẫn tôi đi khắp chợ phiên, mời tôi nếm thử hương vị thơm hăng hắc của món thịt trâu nướng chấm muối ớt, miếng cơm lam trong những ống tre nhỏ. Lò Nương nói chưa thạo tiếng Kinh, mà tiếng Thái thì tôi không hiểu.
Chất giọng lơ lớ Việt- Thái của cô đôi lúc khiến tôi thấy buồn cười, nhưng rồi cũng quen. Một lúc sau, nhân vật thứ ba xuất hiện, chàng trai Thái Tống Văn Pang-bạn của Lò Nương tình nguyện cùng chúng tôi du ngoạn chợ xuân ở bản Panh. Hình như Lò Nương và Tống Văn Pang là đôi bạn tình của nhau, cứ nhìn đôi mắt họ thì biết, tình tứ lắm.
Pang kể tôi nghe, chuyện tình yêu của trai gái Thái rất tự do và đầy chất thơ. Đêm khuya, chàng trai đến một bản Thái, nơi có cô gái mà chàng ưng ý. Chó trong bản sủa rộ lên, nhưng không ai lấy làm lạ, bởi đó là bọn "in xáo"- tiếng Việt là "chơi gái", nhưng không có ý xấu như cách nói của người Việt. Chàng trai đứng dưới sàn, đoán chỗ cô gái ngủ và khẽ gọi. Cô gái tỉnh dậy, thì thào hỏi chuyện, nếu ưng sẽ khẽ dậy mở cửa để gặp chàng. Trai Thái chưa vợ có thể đi chọc sàn tuỳ ý, không phải xin phép bố mẹ và có thể đi đến sáng bạch mới về mà không bị trách mắng... Kể đến đây, cậu trai Pang mặt đỏ, liếc nhìn Lò Nương, không biết cậu đã "chọc sàn" nhà Lò Nương chưa?
Xóm núi bản Panh về chiều, tiếng chày giã gạo vang lên rộn rã, thung xa đã dâng lên màu khói lãng đãng của sương chiều. Những người khách lữ hành vội vã băng qua mấy chặng đường núi quanh co và vắng lặng, chợt vẳng bên tai nhịp chày rộn rã giữa trùng điệp cây lá của núi rừng. Bất chợt, tôi thấy trong lòng sự bâng khuâng khó tả, thoáng chút ngây ngất bởi men rượu cần vừa uống khi nãy ở chợ phiên. Pang và Nương hào hứng đưa tôi về nơi ở của họ. Trước mặt tôi hiện lên dáng vẻ cổ kính nhưng đầy lãng mạn của ngôi nhà sàn Thái, ngôi nhà dài, có nhiều gian, tuy không mới nhưng rất thoáng mát và sạch sẽ, không thấy mùi hôi của trâu bò từ gầm sàn như ở nhiều nơi khác. Góc gian đầu nhà sàn là nơi thờ cúng tổ tiên. Các gian tiếp theo dành cho ông bà, cha mẹ, con cái và tối thiểu trong mỗi nhà sàn phải có hai cái bếp.
Gia đình Lò Nương mời tôi và mấy người khách qua đường cùng dùng bữa. Thật may, Lò Nương cho biết, sau bữa tối, chúng tôi được thưởng thức đêm sinh hoạt văn hóa nhà sàn- một phong tục mà dân bản Panh thường tổ chức mỗi khi có khách đến thăm. Bữa tối thật ấm cúng. Thức ăn bày trên dãy bàn tre cao chừng 30 phân kế tiếp nhau. Khách và chủ cùng quây quần quanh bàn với những món ăn quen thuộc của đồng bào Thái: thịt băm nướng, cá nướng, canh bon, cơm lam nướng trong ống nứa thơm mùi nếp mới, cả cơm nếp được đựng trong cóm khẩu. Người cậu của Lò Nương, tên Quàng Văn Mạch tíu tít mời rượu, thứ rượu cất bằng gạo nương thơm sánh. Rượu nồng, lời mời khéo và hay như lời hát, vừa chân thành vừa lịch lãm khiến khách dù không uống được rượu cũng khó chối từ. Người Thái có tục khi uống rượu thường rót vài giọt xuống sàn mời thổ công. Tiếng vỗ tay, reo hò khích lệ khiến bữa ăn càng lúc càng vui, chén rượu càng uống càng nồng.
Trời tối, đêm văn hóa bắt đầu. Bà con trong bản kéo đến ngày một đông. Theo tay Lò Nương và Pang chỉ, có rất nhiều trai gái ở các bản Me, bản Lầu, bản Cá, bản Bó... - cách đó không xa cùng đến dự hội. Lực lượng văn nghệ nòng cốt là các cô gái trong đội xoè.
Họ duyên dáng trong trang phục Thái đen, áo tay bồng, sắc màu rực rỡ trắng, hồng, xanh, lóng lánh hàng cúc bạc. Dễ dàng nhận ra trong số họ những phụ nữ đã có chồng hoặc những cô gái còn độc thân, bởi tục của người Thái đã quy định, gái có chồng thường búi tóc ngược đánh cao trên đỉnh đầu, gái chưa chồng tóc búi trễ sau gáy. Say mê và đắm đuối, đám gái Thái đã hút hồn những lữ khách phương xa bằng các điệu múa trữ tình: inh lả ơi, múa đẩy thuyền, hái rau, múa khăn, múa chai, múa nón... Người dân bản Panh nói, các điệu múa này phần lớn được người Thái cách điệu từ những động tác lao động thường ngày.
Dứt mấy bài múa, Lò Nương tách đám bạn, chạy ra phía tôi và Pang, cả hai đang hớn hở vỗ tay. Họ kể, các tiết mục này đều là "cây nhà lá vườn" của dân bản Panh trong đêm sinh hoạt văn hóa nhà sàn, mỗi khi có khách xa đến bản. Xen giữa cuộc vui là những giây phút giao lưu, trò chuyện, tâm tình bên hũ rượu cần, sự gần gũi thân tình giữa chủ và khách mỗi lúc một thắm đượm.
Tan hội, dân bản tản về những nếp nhà sàn, tôi được gia đình Lò Nương mời ở lại, chăn gối dành riêng cho khách được mang ra. Lò Nương gợi ý, rủ tôi đừng vội nghỉ mà hãy cùng cô tâm tình. Lò Nương đem khoe tôi bộ phục sức của phụ nữ Thái, đáng chú ý nhất là chiếc khăn Piêu đội đầu. Piêu thể hiện tài năng, nét duyên dáng vừa phô phang, vừa e ấp, với sự sắp xếp tài tình của các hoạ tiết và sắc màu rực rỡ. Từng vùng có khăn Piêu đặc trưng khác nhau. Mảng thêu hai đầu Piêu rộng lớn hoặc cô đọng, dày đặc hoặc thông thoáng, rực rỡ hoặc dịu nhẹ, kỹ lưỡng hoặc khơi gợi. Áo váy của phụ nữ Thái cũng góp phần tôn thêm vẻ đẹp của họ, vừa mộc mạc hoang sơ, lại vừa tinh tế.
Phụ nữ Thái trắng càng duyên hơn bởi chiếc nón đội đầu. Nét đẹp khiến khó ai có thể bỏ qua, nhất là các chàng trai phương xa khi được chiêm ngưỡng họ trong những đám hội, trong các điệu múa xoè, nhảy sạp hoặc một đêm Han khuống. Han khuống là một cách giao tiếp của nam nữ thanh niên Thái với mục đích giao duyên, kiểu như hát quan họ của các liền anh liền chị vùng Kinh Bắc vậy. Trong bản, người ta dựng lên một cái sàn không mái, lên sàn bằng một chiếc thang.
Ban đêm, trên sàn đốt lửa, những cô gái Thái ngồi quay sợi, thêu thùa. Chàng trai muốn lên sàn phải hát, hát hay và lịch sự thì cái thang mới được các cô gái thả xuống để mời lên. Han khuống không những là dịp để nhiều đôi trai gái Thái thành vợ thành chồng mà còn để lại trong nhiều người những kỷ niệm êm đềm, dù chẳng bén duyên nhau. Tôi đã dần thiếp đi trong tiếng kể chuyện mê hoặc của Lò Nương…
Đã mấy năm rồi, bản Panh bây giờ có khác? Cô bạn gái Lò Nương không biết đã kết tóc xe duyên cùng chàng trai Tống Văn Pang? Tiết trời xuân cứ gợi nhớ khiến tôi luôn tự hỏi mình như vậy. Bản Panh trong lòng tôi ở không xa, chỉ ước mùa xuân này lại được lên trên đó.
Theo webdulich.com
Tôi gặp cô gái Thái tên Lò Nương trong một chợ phiên nhỏ ở Bản Panh (Sơn La) vào một ngày giáp Tết, cách đây chừng hai, ba năm. Lò Nương có dáng vóc nhỏ nhắn, trắng trẻo, khác hẳn sự miêu tả của nhiều người về thôn nữ vùng cao. Phút ban đầu e lệ nhanh chóng qua đi, Lò Nương vui vẻ dẫn tôi đi khắp chợ phiên, mời tôi nếm thử hương vị thơm hăng hắc của món thịt trâu nướng chấm muối ớt, miếng cơm lam trong những ống tre nhỏ. Lò Nương nói chưa thạo tiếng Kinh, mà tiếng Thái thì tôi không hiểu.
Chất giọng lơ lớ Việt- Thái của cô đôi lúc khiến tôi thấy buồn cười, nhưng rồi cũng quen. Một lúc sau, nhân vật thứ ba xuất hiện, chàng trai Thái Tống Văn Pang-bạn của Lò Nương tình nguyện cùng chúng tôi du ngoạn chợ xuân ở bản Panh. Hình như Lò Nương và Tống Văn Pang là đôi bạn tình của nhau, cứ nhìn đôi mắt họ thì biết, tình tứ lắm.
Pang kể tôi nghe, chuyện tình yêu của trai gái Thái rất tự do và đầy chất thơ. Đêm khuya, chàng trai đến một bản Thái, nơi có cô gái mà chàng ưng ý. Chó trong bản sủa rộ lên, nhưng không ai lấy làm lạ, bởi đó là bọn "in xáo"- tiếng Việt là "chơi gái", nhưng không có ý xấu như cách nói của người Việt. Chàng trai đứng dưới sàn, đoán chỗ cô gái ngủ và khẽ gọi. Cô gái tỉnh dậy, thì thào hỏi chuyện, nếu ưng sẽ khẽ dậy mở cửa để gặp chàng. Trai Thái chưa vợ có thể đi chọc sàn tuỳ ý, không phải xin phép bố mẹ và có thể đi đến sáng bạch mới về mà không bị trách mắng... Kể đến đây, cậu trai Pang mặt đỏ, liếc nhìn Lò Nương, không biết cậu đã "chọc sàn" nhà Lò Nương chưa?
Xóm núi bản Panh về chiều, tiếng chày giã gạo vang lên rộn rã, thung xa đã dâng lên màu khói lãng đãng của sương chiều. Những người khách lữ hành vội vã băng qua mấy chặng đường núi quanh co và vắng lặng, chợt vẳng bên tai nhịp chày rộn rã giữa trùng điệp cây lá của núi rừng. Bất chợt, tôi thấy trong lòng sự bâng khuâng khó tả, thoáng chút ngây ngất bởi men rượu cần vừa uống khi nãy ở chợ phiên. Pang và Nương hào hứng đưa tôi về nơi ở của họ. Trước mặt tôi hiện lên dáng vẻ cổ kính nhưng đầy lãng mạn của ngôi nhà sàn Thái, ngôi nhà dài, có nhiều gian, tuy không mới nhưng rất thoáng mát và sạch sẽ, không thấy mùi hôi của trâu bò từ gầm sàn như ở nhiều nơi khác. Góc gian đầu nhà sàn là nơi thờ cúng tổ tiên. Các gian tiếp theo dành cho ông bà, cha mẹ, con cái và tối thiểu trong mỗi nhà sàn phải có hai cái bếp.
Gia đình Lò Nương mời tôi và mấy người khách qua đường cùng dùng bữa. Thật may, Lò Nương cho biết, sau bữa tối, chúng tôi được thưởng thức đêm sinh hoạt văn hóa nhà sàn- một phong tục mà dân bản Panh thường tổ chức mỗi khi có khách đến thăm. Bữa tối thật ấm cúng. Thức ăn bày trên dãy bàn tre cao chừng 30 phân kế tiếp nhau. Khách và chủ cùng quây quần quanh bàn với những món ăn quen thuộc của đồng bào Thái: thịt băm nướng, cá nướng, canh bon, cơm lam nướng trong ống nứa thơm mùi nếp mới, cả cơm nếp được đựng trong cóm khẩu. Người cậu của Lò Nương, tên Quàng Văn Mạch tíu tít mời rượu, thứ rượu cất bằng gạo nương thơm sánh. Rượu nồng, lời mời khéo và hay như lời hát, vừa chân thành vừa lịch lãm khiến khách dù không uống được rượu cũng khó chối từ. Người Thái có tục khi uống rượu thường rót vài giọt xuống sàn mời thổ công. Tiếng vỗ tay, reo hò khích lệ khiến bữa ăn càng lúc càng vui, chén rượu càng uống càng nồng.Trời tối, đêm văn hóa bắt đầu. Bà con trong bản kéo đến ngày một đông. Theo tay Lò Nương và Pang chỉ, có rất nhiều trai gái ở các bản Me, bản Lầu, bản Cá, bản Bó... - cách đó không xa cùng đến dự hội. Lực lượng văn nghệ nòng cốt là các cô gái trong đội xoè.
Họ duyên dáng trong trang phục Thái đen, áo tay bồng, sắc màu rực rỡ trắng, hồng, xanh, lóng lánh hàng cúc bạc. Dễ dàng nhận ra trong số họ những phụ nữ đã có chồng hoặc những cô gái còn độc thân, bởi tục của người Thái đã quy định, gái có chồng thường búi tóc ngược đánh cao trên đỉnh đầu, gái chưa chồng tóc búi trễ sau gáy. Say mê và đắm đuối, đám gái Thái đã hút hồn những lữ khách phương xa bằng các điệu múa trữ tình: inh lả ơi, múa đẩy thuyền, hái rau, múa khăn, múa chai, múa nón... Người dân bản Panh nói, các điệu múa này phần lớn được người Thái cách điệu từ những động tác lao động thường ngày.Dứt mấy bài múa, Lò Nương tách đám bạn, chạy ra phía tôi và Pang, cả hai đang hớn hở vỗ tay. Họ kể, các tiết mục này đều là "cây nhà lá vườn" của dân bản Panh trong đêm sinh hoạt văn hóa nhà sàn, mỗi khi có khách xa đến bản. Xen giữa cuộc vui là những giây phút giao lưu, trò chuyện, tâm tình bên hũ rượu cần, sự gần gũi thân tình giữa chủ và khách mỗi lúc một thắm đượm.
Tan hội, dân bản tản về những nếp nhà sàn, tôi được gia đình Lò Nương mời ở lại, chăn gối dành riêng cho khách được mang ra. Lò Nương gợi ý, rủ tôi đừng vội nghỉ mà hãy cùng cô tâm tình. Lò Nương đem khoe tôi bộ phục sức của phụ nữ Thái, đáng chú ý nhất là chiếc khăn Piêu đội đầu. Piêu thể hiện tài năng, nét duyên dáng vừa phô phang, vừa e ấp, với sự sắp xếp tài tình của các hoạ tiết và sắc màu rực rỡ. Từng vùng có khăn Piêu đặc trưng khác nhau. Mảng thêu hai đầu Piêu rộng lớn hoặc cô đọng, dày đặc hoặc thông thoáng, rực rỡ hoặc dịu nhẹ, kỹ lưỡng hoặc khơi gợi. Áo váy của phụ nữ Thái cũng góp phần tôn thêm vẻ đẹp của họ, vừa mộc mạc hoang sơ, lại vừa tinh tế.Phụ nữ Thái trắng càng duyên hơn bởi chiếc nón đội đầu. Nét đẹp khiến khó ai có thể bỏ qua, nhất là các chàng trai phương xa khi được chiêm ngưỡng họ trong những đám hội, trong các điệu múa xoè, nhảy sạp hoặc một đêm Han khuống. Han khuống là một cách giao tiếp của nam nữ thanh niên Thái với mục đích giao duyên, kiểu như hát quan họ của các liền anh liền chị vùng Kinh Bắc vậy. Trong bản, người ta dựng lên một cái sàn không mái, lên sàn bằng một chiếc thang.
Ban đêm, trên sàn đốt lửa, những cô gái Thái ngồi quay sợi, thêu thùa. Chàng trai muốn lên sàn phải hát, hát hay và lịch sự thì cái thang mới được các cô gái thả xuống để mời lên. Han khuống không những là dịp để nhiều đôi trai gái Thái thành vợ thành chồng mà còn để lại trong nhiều người những kỷ niệm êm đềm, dù chẳng bén duyên nhau. Tôi đã dần thiếp đi trong tiếng kể chuyện mê hoặc của Lò Nương…Đã mấy năm rồi, bản Panh bây giờ có khác? Cô bạn gái Lò Nương không biết đã kết tóc xe duyên cùng chàng trai Tống Văn Pang? Tiết trời xuân cứ gợi nhớ khiến tôi luôn tự hỏi mình như vậy. Bản Panh trong lòng tôi ở không xa, chỉ ước mùa xuân này lại được lên trên đó.
Theo webdulich.com
Thứ Tư, 30 tháng 3, 2011
Bên dòng suối Nậm Pàn
Đến với những Bản người Thái ở Sơn La, dọc theo con suối Nậm Pàn, lọt giữa thiên nhiên Tây Bắc hùng vĩ. Trời cuối thu se lạnh, nắng vàng rực rỡ, vàng thêm những thảm lúa bậc thang nép mình trải dài dưới chân thung lũng, nghe tiếng suối róc rách ngàn đời không nghỉ…
< Trên đường vào bản.
Không khí trong lành. Sáng xuân, trưa hè, chiều thu, đêm lạnh. Con người Tây Bắc hồn hậu, gần gũi thiên nhiên. Những thiếu nữ xinh đẹp giấu mình trong chiếc Áo Kóm, tình tứ ngồi bên cửa gửi lòng mình vào sợi chỉ hồng, thêu lên những chiếc khăn Piêu đẹp như bài hát.
Trước nhà không xa, dưới suối, những phụ nữ buông lơi Tằng Cẩu, tắm mình đùa giỡn trong dòng nước mát, tiếng cười trong vắt ngân vang giữa núi ngàn trùng điệp. Lũ trẻ thả trâu đốt lửa dưới trời chiều bảng lảng. Cảnh đẹp như mơ…
< Chuẩn bị bữa cơm gia đình.
< Gội tóc bằng nước gạo ngâm chua (phong tục của người Thái - Tây Bắc).
Dấu chân không khỏi vấn vương khi bước lên chín bậc cầu thang, ngồi trên nhà sàn, uống rượu bản của người Thái với cá suối nướng than củi, ăn cơm nếp nương đồ đựng trong Kóm Khẩu đón nhận những ánh mắt và nụ cười thân thiện…
< Dáng núi...
Huyện Mường La là huyện miền núi của Sơn La, cách Thành phố Sơn La 41 km về phía Đông Bắc. Huyện Mường La nằm ở độ cao trung bình từ 500- 700m so với mặt nước biển, phía Đông và phía Đông Bắc của huyện là những dãy núi cao, địa hình thấp dần về phía Nam và dọc theo 2 bờ sông Đà.
Trên địa bàn có sông Đà và 5 con suối lớn là suối Nậm Mu, Nậm Chiến, Nậm Trai, Nậm Pàn, Nậm Pia chảy qua.
Theo báo ảnh Đất Mũi
< Trên đường vào bản.
Không khí trong lành. Sáng xuân, trưa hè, chiều thu, đêm lạnh. Con người Tây Bắc hồn hậu, gần gũi thiên nhiên. Những thiếu nữ xinh đẹp giấu mình trong chiếc Áo Kóm, tình tứ ngồi bên cửa gửi lòng mình vào sợi chỉ hồng, thêu lên những chiếc khăn Piêu đẹp như bài hát.
Trước nhà không xa, dưới suối, những phụ nữ buông lơi Tằng Cẩu, tắm mình đùa giỡn trong dòng nước mát, tiếng cười trong vắt ngân vang giữa núi ngàn trùng điệp. Lũ trẻ thả trâu đốt lửa dưới trời chiều bảng lảng. Cảnh đẹp như mơ…
< Chuẩn bị bữa cơm gia đình.
< Gội tóc bằng nước gạo ngâm chua (phong tục của người Thái - Tây Bắc).
Dấu chân không khỏi vấn vương khi bước lên chín bậc cầu thang, ngồi trên nhà sàn, uống rượu bản của người Thái với cá suối nướng than củi, ăn cơm nếp nương đồ đựng trong Kóm Khẩu đón nhận những ánh mắt và nụ cười thân thiện…
< Dáng núi...
Huyện Mường La là huyện miền núi của Sơn La, cách Thành phố Sơn La 41 km về phía Đông Bắc. Huyện Mường La nằm ở độ cao trung bình từ 500- 700m so với mặt nước biển, phía Đông và phía Đông Bắc của huyện là những dãy núi cao, địa hình thấp dần về phía Nam và dọc theo 2 bờ sông Đà.
Trên địa bàn có sông Đà và 5 con suối lớn là suối Nậm Mu, Nậm Chiến, Nậm Trai, Nậm Pàn, Nậm Pia chảy qua.
Theo báo ảnh Đất Mũi
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)































