Hiển thị các bài đăng có nhãn Xem cho biết. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Xem cho biết. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 17 tháng 7, 2011

Lên Sapa tắm lá thuốc

Sapa không chỉ hấp dẫn khách du lịch bởi vẻ đẹp mê hồn của Hàm Rồng, Thác Bạc hay hương vị lôi cuốn của đồ nướng, lẩu cá tầm, thắng cố, rượu ngô Bản Phố... mà còn bởi dịch vụ tắm lá thuốc của người Dao đỏ.

Tiếng lành đồn xa vượt qua những đèo dốc miền cao, giờ đến Sapa không tắm lá thuốc người Dao đỏ, cũng có thể coi như chưa biết Sapa…
Đã nhiều dịp chiêm ngưỡng Sapa, khám phá Sapa từ phong tục tập quán đến ẩm thực ngon, lạ của đồng bào các dân tộc Mông, Dao, Giáy..., song lần này cái háo hức thúc đẩy tôi vượt một chặng đường dài từ Hà Nội lên Sapa lại là cảm giác lâng lâng khi được thả mình trong bồn tắm với hàng chục thứ lá thuốc trị liệu của người Dao Đỏ.

Bản làng của người Dao đỏ thường nằm cheo leo nơi lưng chừng núi cao. Cuộc sống lại gắn liền với rừng già nên người Dao vốn giỏi nghề thuốc. Không biết từ khi nào và từ ai mà các thế hệ người Dao từ đời này sang đời khác truyền nhau một bài thuốc tắm cổ truyền kỳ diệu từ các loại thảo mộc để chữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ. Bài thuốc được lưu giữ và truyền lại cho những người phụ nữ trong nhà.

Người Dao có thói quen tắm thuốc bằng nước nóng quanh năm, bất kể là mùa đông hay mùa hè. Cho đến nay những gia đình “tứ đại đồng đường” vẫn chung nhau một thùng nước tắm.

Lắc lư trên chuyến tàu đêm Hà Nội - Lào Cai, nghiêng ngả trên ô tô hơn tiếng đồng hồ, vượt những cung đường đèo dốc thoai thoải, tôi đến Sapa khi trời vừa kịp bừng sáng. Không khí trong lành buổi sớm miền sơn cước xua tan đi sự mỏi mệt của một đêm ngủ tàu. Khác với những lần trước, không hoà mình vào dòng khách du lịch đi chơi Cầu Mây, đi ngắm Thác Bạc hay rong ruổi leo núi Hàm Rồng, tôi chăm chú lắng nghe cô hướng dẫn viên du lịch giới thiệu về dịch vụ tắm lá thuốc và quyết định đến cơ sở kinh doanh dịch vụ này của Lý Láo Lở, một thanh niên còn khá trẻ ở xã Tả Phìn, huyện Sapa, tỉnh Lào Cai.

Từ cây cầu 32 trên con đường quốc lộ dẫn lên Sa Pa, rẽ phải khoảng chục cây số là tới xã Tả Phìn.

Đi dạo một vòng trung tâm xã, cứ tưởng cơ sở kinh doanh tắm lá thuốc thì địa điểm phải đẹp, ít nhất cũng nằm ở nơi đông người qua lại, đằng này, trong vai khách du lịch, lần mò mất gần nửa tiếng đồng hồ mới thấy cái biển hiệu mờ mờ, màu xanh xanh ở thôn Tà Chải có tên cơ sở kinh doanh tắm lá thuốc của Lý Láo Lở.
Cơ sở này nằm gọn trong một ngôi nhà cấp 4, nổi bật giữa không gian toàn những nhà gỗ truyền thống. Gian tiếp khách khoảng chục mét vuông, kê một chiếc giường cá nhân, một bộ bàn ghế đóng thủ công và một cái bục gỗ đặt chiếc biển mica “Reception”. Người đầu tiên tôi gặp là Tẩn Tả Mẩy, một nhân viên chuyện pha chế thuốc tắm.

Vốn là hướng dẫn viên du lịch ở bản Tả Phìn nên cái khiếu giới thiệu về công dụng tắm lá thuốc của Tẩn Tả Mẩy làm nhóm khách du lịch có mặt tại đây lúc đó hoàn toàn bị thuyết phục. Tẩn Tả Mẩy kể lại khá tỷ mỷ, từ lịch sử đến bí quyết bài thuốc giờ vẫn được người Dao Đỏ giữ bí mật.

Mất khoảng 15 phút chuẩn bị, Tẩn Tả Mẩy dẫn tôi vào phòng tắm và không quên dặn dò: “Tắm lá thuốc phải biết giữ nhiệt độ nước đạt 30độ - 37độC mới có hiệu quả. Tuỳ thể trạng sức khoẻ từng người mà thời lượng tắm chỉ 10 - 30 phút, nếu không sẽ bị say”.

Cảm nhận đầu tiên của tôi là không gian phòng tắm, nó chỉ rộng chừng 8m2. Cửa phòng vừa mở ra, những làn khói trắng đã bốc lên nghi ngút xen lẫn hương thơm từ các loại thảo mộc tạo một cảm giác ngây ngất, khoan khoái và dễ chịu đến lạ thường...

Bài thuốc tắm này phải sử dụng nhiều lọai thảo dược. Thường một lần tắm ít cũng phải hơn 10 loại, còn nhiều phải hơn 120 loại thảo dược. Tùy từng loại thảo dược mà cách chế biến khác nhau.

Có loại được phơi hoặc sao khô, có loại phải để tươi nguyên. Thứ thuốc tắm ấy bắt nguồn từ lá cây do người Dao Đỏ lên rừng lấy, sau sơ chế rồi thì cho vào cái thùng phi to, đun sôi liên tục bằng củi khoảng 3 - 4 tiếng, lấy một loại tinh dầu chiết xuất màu đo đỏ và đổ vào các bồn tắm cao chừng 1,2m, bán kính khoảng 0,6 m làm bằng gỗ pơmu.

Tuỳ lượng nước tắm mà bốc thuốc nhiều hay ít, thường thì theo tỷ lệ 2-98%. Trong phòng tắm nhỏ khép kín, làn hơi nước bốc lên mù mịt, đưa hương thơm ngát từ mùi thơm của thuốc quyện với mùi thơm của gỗ. Nước tắm có màu huyết dụ, sóng sánh như rượu vang đỏ.

Chẳng mấy chốc thuốc trong bồn tắm bỗng xông lên mũi, mắt, rồi miệng tôi, làm mọi giác quan của tôi rơi vào trạng thái bồng bềnh, êm ái. Càng ngâm mình vào nước thuốc, cơ thể càng như thấy một luồng điện râm ran chạy tới từng thớ thịt. Cảm giác dễ chịu, tinh thần phấn chấn, mọi mệt nhọc dường như tan biến, khiến tôi chỉ muốn ngâm mình mãi trong bồn. Chợt nghĩ tới tác dụng giúp cơ thể khỏi các bệnh đau nhức cơ, xương, khớp, cảm cúm... tôi lý giải được tại sao lượng khách du lịch trong và ngoài nước đến Sapa tắm lá thuốc thời gian gần đây đông đến thế, bất kể đó là mùa đông hay mùa hè.

Sau bao năm chỉ lưu truyền trong cộng đồng trên những ngọn núi cao, bài thuốc tắm bảo vệ sức khoẻ cổ truyền của người Dao đỏ giờ đã trở thành một sản phẩm du lịch vừa quý, vừa lạ, vừa giàu bản sắc văn hoá độc đáo, tăng thêm sức hấp dẫn cho thị trấn du lịch Sa Pa với du khách bốn phương, khiến ai cũng muốn quay lại lần sau.

Hiện ở Sapa có khoảng gần chục cơ sở kinh doanh dịch vụ tắm lá thuốc. Hàng tuần, người Dao Đỏ từ bản Tả Phìn lại địu nguyên liệu thuốc xuống cung cấp cho các cơ sở này, giúp cho dịch vụ tắm lá thuốc giờ đây trở thành một sản phẩm du lịch đặc trưng của Sapa…

Du lịch, GO! - Tổng hợp từ Doanhnhan, Yeudulich, internet

Thứ Tư, 29 tháng 6, 2011

Kỳ bí 'vệt ối đỏ' loang... hiện ra 'người đàn ông dữ tợn'

Tiếp theo P1Từ vách đá sần sùi, trắng xóa dần hiện lên những vệt đỏ ối. Nước chảy đến đâu, sắc đỏ xuất hiện đến đó và theo thời gian màu đậm dần lên. Khi dòng nước chảy hết một khoảnh trên phiến đá, thì hình ảnh một người đàn ông to lớn, dũng mãnh, dữ dằn hiện lên đỏ rực.

Sau khi hứa lên bờ xuống ruộng rằng không tiết lộ cụ thể địa điểm có hình vẽ bí ẩn trên vách đá, tôi được Thạc sĩ Nguyễn Ngọc Luyên giới thiệu tới ông Trần Xuân Quang, Trạm trưởng trạm du lịch Vân Long. Theo Thạc sĩ Luyên, ông Quang là một trong số ít người biết rõ vách đá có hình vẽ bí ẩn, độc nhất được biết đến ở Việt Nam.

Sau phút ngần ngừ, rồi ông Quang cũng gọi anh Nguyễn Văn Nhàn, là cộng tác viên của khu du lịch, có nhiệm vụ tuần tra kiểm soát người ra vào, trông nom đàn voọc ở những dãy núi của khu ngập nước Vân Long.

Anh Nguyễn Văn Nhàn chống sào đẩy con thuyền nhỏ lướt nhẹ trên đầm Vân Long. Cảnh tượng núi đá mọc lên giữa khu ngập nước, soi bóng lung linh, với sen tỏa ngát hương, chả khác nào bồng lai dưới hạ giới.

Dãy núi Cửa Chùa dài gần cây số, là một trong số cả chục dãy núi thuộc khu ngập nước Vân Long, vắt qua hai tỉnh Ninh Bình và Hòa Bình, rộng vài ngàn héc-ta. Toàn bộ các dãy núi đều là núi đá vôi, với vô vàn vách đá phản ánh mặt trời trắng xóa. Nếu không có sự chỉ dẫn, tự lần mò đi tìm, chắc cả năm cũng thấy hình vẽ ở đâu.

Con đường từ bến thuyền đến núi Cửa Chùa chỉ dài chưa đầy 1km, song Nhàn phải chèo thuyền ngót 30 phút mới tới nơi. Lâu ngày không có người ra vào dãy núi này, sen mọc bít lối đi. Nhàn phải đẩy thuyền cật lực mới đè bẹp được những lá sen to như cái ô để thuyền lướt đi.

Toàn bộ dãy núi Cửa Chùa cỏ mọc rậm rịt, dây leo chằng chịt. Thi thoảng có những vách đá trống trơn, phải chiếu ánh mặt trời trắng xóa, không có cây cỏ nào bám lên được. Chúng tôi chỉ trỏ hết vách đá này đến vách đá kia để phán đoán nơi có những bích họa lạ lùng, song Nhàn chỉ cười tủm tỉm.
Rồi con thuyền cũng cập chân núi. Nơi đây, có một bãi đất khá bằng phẳng, khô ráo, rộng rãi và sạch sẽ. Vách đá như một bức tường thành khổng lồ, nghiêng chừng 70 độ, như thể sắp đổ ụp xuống.

Nhàn chỉ tay lên vách đá rộng vài trăm mét vuông bảo: “Anh đi tìm xem hình vẽ ở chỗ nào”. Tôi lần mò khắp vách đá, ngửa mỏi cổ nhìn lên cao, vạch từng bụi cỏ song tuyệt nhiên chả thấy có hình vẽ, hình khắc nào cả. Có chăng, chỉ thấy vài vết vạch nguệch ngoạc như ai đó dùng dao chém vào.

Nhàn chẳng nói chẳng rằng ra mép đầm hái một lá sen to tướng rồi vục đầy nước. Nước đầm trong đến nỗi nhìn rõ cả con cá bé xíu bằng cọng tăm bơi lội. Nhàn bê bịch nước đứng dưới chân vách đá bảo: “Anh nhìn kỹ nhé, toàn bộ vách đá màu trắng, sần sùi tự nhiên, không có tranh vẽ gì cả”. Thì đúng là vách đá chẳng có gì, bởi tôi đã lần mò tìm kiếm kỹ lưỡng một lượt.

Nhàn ráng sức té bịch nước lên vách đá. Một cảnh tượng như ma thuật hiện ra trước mắt tôi: Từ vách đá sần sùi, trắng xóa dần hiện lên những vệt đỏ ối. Nước chảy đến đâu, sắc đỏ xuất hiện đến đó và theo thời gian màu đậm dần lên. Khi dòng nước chảy hết một khoảnh trên phiến đá, thì hình ảnh một người đàn ông to lớn, dũng mãnh, dữ dằn hiện lên đỏ rực.

Không rõ đây có phải là chữ tượng hình cổ không? 

Người đàn ông này có khuôn mặt tròn xoe, hai mắt là hình vẽ tròn như hai hòn bi ve, đôi tai rất lớn và mái tóc trông như ngọn lửa đang cháy. Nhìn toàn bộ khuôn mặt, thì có thể thấy người vẽ muốn biểu đạt đây là người kỳ quái, hung tợn.

Lạ nhất là phần khắc họa bụng. Những nét vẽ ở bụng như kiểu giải phẫu, với xương sườn và nội tạng. Tuy nhiên, vì nét vẽ không chi tiết, rõ ràng, nên cũng có thể hiểu đó là áo giáp.

Riêng hình vẽ phần chân thì mang tính cách điệu nhiều hơn là tả thực. Đôi chân khá nhỏ, đứng trong tư thế… xiêu vẹo. Bàn chân thì không có, nhưng các ngón chân thì dài và ngoằn ngoèo như thể rễ cây. Không rõ phần chân của người đàn ông này muốn biểu thị điều gì, hay là sự ngô nghê của con trẻ khi đặt bút? Khả năng ngô nghê ít xảy ra, bởi hai điều, thứ nhất là địa điểm vẽ khá cao, trên vách đá, mà người lớn phải kiễng chân mới với tới được, thứ hai, chất liệu vẽ trên đá không phải là sơn hay mực tầm thường (điều này sẽ nói sau). Như vậy, đôi chân kỳ quái của người đàn ông này phải biểu thị một ý tưởng nào đó, cần sự giải mã của các nhà khoa học.

Hai tay người đàn ông này cầm hai thứ vũ khí khác nhau. Tay phải cầm quả chùy cán dài, tay trái cầm thanh đao và giương ra hai bên như thể đe dọa. Xét về mặt tổng thể, có thể tưởng tượng đây là một chiến binh.

Bích họa hình người cực kỳ đơn giản. 

Sau khi quan sát kỹ lưỡng bức họa người đàn ông kỳ dị, tôi dùng chai nước khoáng bằng nhựa múc nước dưới đầm rồi phụt bừa lên vách đá. Nước chảy đến đâu, các nét đỏ ối hiện lên đến đó. Chỗ nào nhiều nước thì màu đậm, chỗ nào ít nước thì màu hiện lên mờ nhạt. Chỉ dội qua một lượt, tôi đếm được tới vài chục hình vẽ. Các hình vẽ khác đều có tiết diện nhỏ hơn so với hình vẽ người đàn ông dữ tợn.
Những hình vẽ trên mái đá không theo một thể thống nhất, xuất hiện lộn xộn và rải rác khắp mọi nơi. Có chỗ các hình vẽ tập trung dày đặc, có chỗ lưa thưa vài hình, có chỗ chẳng có hình vẽ nào.

Có hai nội dung mà các hình vẽ biểu thị, gồm hình người và ký tự lạ. Các ký tự xuất hiện rất nhiều, có chữ hơi giống chữ Nho, song có chữ như thể tượng hình tả một con vật nào đó. Liệu đây có phải là một loại chữ cổ thời xa xưa? Nếu đây là hệ thống chữ cổ, thì quả là một thông tin vô cùng quý giá.

Về hình người thì có vô số hình vẽ khác nhau, có hình cầu kỳ phức tạp, với đầy đủ tay chân, đầu tóc, vũ khí, song có hình rất đơn giản, chỉ gồm cái đầu tròn xoe và thân hình bầu, thêm mỗi cái tay nữa. Có hình tôi nhìn mãi mà không biết chủ nhân vẽ người, khỉ hay mèo. Nhìn ở một cách toàn diện, thì vừa giống khỉ vừa giống người, nhưng nhìn riêng khuôn mặt thì lại rõ là con mèo. Phổ biến nhất có lẽ là hình người, gồm cả trai lẫn gái nhảy múa bên nhau, rồi hình người tay cầm dao kiếm.

Lạ nhất là một khu vực dày đặc người, nhảy múa có hàng có lối. Phía trên cùng là một người đang ngồi không rõ trên ghế hay ngai vàng. Hình nhìn vẽ này, có thể liên tưởng người ngồi trên ghế là ông chủ, vua chúa, đấng tối cao. Tuy nhiên, người ngồi trên ghế lại giống một đứa trẻ, đầu đội mũ, miệng cười rất tươi.

Nhìn các hình vẽ, có thể thấy nhiều sắc thái, nhiều khung cảnh hiện lên. Đó có thể là mô tả về chiến tranh, về đời sống thường nhật, về các lễ hội… Tôi cứ vục nước té lên khắp mái đá, để rồi ngắm nhìn không chán mắt những bích họa ma quái, kỳ lạ, lúc ẩn, lúc hiện trên vách đá.

Những bích họa 'ma quái' trên núi đá Ninh Bình
Còn tiếp

Du lịch, GO! - Theo VTC

Những bích họa 'ma quái' trên núi đá Ninh Bình

Sau 2 năm chờ đợi, tôi cũng được tận mắt chiêm ngưỡng một câu chuyện vô cùng bí ẩn, hấp dẫn, đặc biệt, đó là những bức họa kỳ lạ, ẩn hiện ma quái trên một mái đá thuộc một dãy núi đá trồi lên giữa bãi lầy ngập nước…

Cách đây 2 năm, trong lần đi thăm chùa Bái Đính, khi đó còn là một công trường ngổn ngang với tượng đá lăn lóc, gỗ lim chềnh ềnh, anh bạn đồng nghiệp ở Ninh Bình có tặng tôi bản thảo một tập tài liệu nghiên cứu về Hang Động, mà theo anh rất có giá trị. Tài liệu này có tên hơi dài: Báo cáo kết quả nghiên cứu cơ sở khoa học và giải pháp khai thác tiềm năng hang động Karst phục vụ phát triển du lịch khu vực Tam Điệp - Yên Mô - Kênh Gà - Vân Trình - Vân Long, tỉnh Ninh Bình, 2006. Người chủ trì đề tài là Thạc sĩ Nguyễn Ngọc Luyên.

Tài liệu toàn nói về các hang động, với rất nhiều thứ lý thú. Những thạch nhũ đẹp kỳ quái, những bức tượng phật chìm trong vách đá, nơi cư trú của người cổ từ hàng vạn năm trước.

Trong số các hang động được giới thiệu, tôi chú ý đến cái hang có tên: Hang Thúi Thó. Hang được định vị chính xác tuyệt đối trên bản đồ với số liệu kinh tuyến, vĩ tuyến chi tiết. Địa điểm hang thuộc xã Gia Vân, (Gia Viễn, Ninh Bình), nơi có khu ngập nước nổi tiếng mang tên Vân Long, cùng đàn voọc mặc quần đùi (cách gọi yêu loài vọc mông trắng, vì trông xa như thể nó mặc quần đùi trắng).

Hang động được Thạc sĩ Nguyễn Ngọc Luyên giới thiệu ngắn gọn thế này: “Hang phân bố ngay sát mặt nước. Đáy hang cao 30cm so với mặt ruộng. Cửa hang quay 130 độ. Trần hang cao 7-8m. Hang có hình vòm cung. Hang khô, không có nước, xếp vào loại tàn dư, thuộc thời kỳ cuối của giai đoạn phát triển karst. Hang này có nét độc đáo là tại vách hang bên trái có một tầng văn hóa gồm các mảnh sò, ốc do người Việt cổ ăn để lại. Ngoài ra, dưới đáy hang còn tồn tại một tảng trầm tích bao gồm các mảnh vỏ hàu, hà gắn kết với nhau rất chặt. Đây là di tích của một đợt biển tiến trong Holocen. Tầng trầm tích này nằm ngay trên nền hang, có nhiều khả năng bị sập xuống. Đánh giá: Hang có giá trị về mặt văn hóa – lịch sử như là một chứng tích của người Việt cổ xưa”.

Sẽ chẳng có gì đáng chú ý ngoài cái tên lạ Thúi Thó, nếu như phần cuối của đoạn giới thiệu, Thạc sĩ Nguyễn Ngọc Luyên không có thêm dòng chữ có nội dung đại để: “Tại dãy núi có hang Thúi Thó, có một vách đá xuất hiện những hình vẽ cổ, kỳ lạ, như những bức bích họa”.

Đọc được dòng chữ hình vẽ cổ như những bích họa, lòng tôi chợt xốn xang. Tôi đã đến vô vàn hang động, từ nhỏ bé đến kỳ vĩ, từ không có người ở đến những hang có nhiều trầm tích, đến hàng trăm mái đá kỳ vĩ, đẹp đẽ, song chưa từng nghe ở đâu có bích họa trên đá. Có chăng, chỉ là những hình khắc, mà sự phát hiện ra hình khắc trên đá, cũng là quý giá lắm rồi, ở Việt Nam có mấy nơi có hình khắc trên đá đâu.

Lại nhớ đến cảnh tôi phải mất mấy ngày giời cuốc bộ trong rừng Hoàng Liên Sơn, để được tận mắt mấy tảng đá có hình khắc. Phải nói thẳng rằng, những hình khắc còn sơ khai quá, ít giá trị nghệ thuật. Ấy thế mà, khi đem những tấm ảnh đó cho PGS – TS. Trình Năng Chung, Trưởng phòng Khoa học (Viện Khảo cổ học Việt Nam), ông rưng rưng xúc động. Vị tiến sĩ khả kính kéo cặp kính trễ nải phân tích từng đường cong của hình khắc mà tôi chụp với sự hào hứng tột độ. Bao nhiêu ý nghĩa của lịch sử, văn hóa, đời sống, ý tưởng, của sự cách điệu hiện về trong những lý giải giàu chất khoa học của ông. Thế mới biết, trong cảnh nghèo nàn của những giá trị di sản, dù vài nét nguệch ngoạc trên đá cũng quý lắm.

Trở lại câu chuyện về mấy dòng chữ nhắc đến trong báo cáo khoa học của Thạc sĩ Nguyễn Ngọc Luyên. Sau khi đọc được mấy dòng chữ đó, tôi đã về ngay Ninh Bình để tìm hiểu. Nhưng rồi, tôi đã phải thất vọng, vì những bức họa đó là… bí mật cấp tỉnh! Mà đã là bí mật, thì được xem cũng khó, nói gì đến chuyện đưa lên báo cho cả thế giới biết.

Quả thực, nói là bí mật cũng phải, vì cả nước Việt Nam, chưa từng nghe nói ở đâu có bích họa trên đá. Dân trí nước mình trong việc bảo vệ di sản có thể nói là kém nhất thế giới. Nói thế thì hơi tủi, nhưng chả ngoa tí nào. Đến hệ thống lăng mộ vua Trần uy nghi, lộng lẫy như thế, người ta còn phá nát. Kẻ trộm thì đục đẽo tượng, đập nát cả chân tảng kê cột xem có kho báu không, còn chính quyền thì ủi cả lăng mộ đi, lấy đá, tượng làm kè, đắp đập thủy lợi nhấn chìm mộ… Thôi thì đủ kiểu tàn phá.

Cứ xem bãi đá cổ có hình khắc ở Sapa thì đủ biết ý thức bảo vệ di tích của nhân dân ta “tốt” đến cỡ nào. Khi phát hiện bãi đá cổ, các nhà khoa học nước ngoài trân trọng nghiên cứu, bảo vệ, còn chúng ta thì thi nhau phá. Cán bộ thì đánh mìn phá đá làm đường, còn người dân biến tảng đá có hình khắc thành cầu trượt, khách du lịch thì tranh thủ khắc lên đó vài chữ trai gái lồng vào nhau, chim bồ câu cắn mỏ, mũi tên xuyên thủng trái tim rỉ máu...

Nhớ lần người rừng Trần Ngọc Lâm dẫn tôi vào Hoàng Liên Sơn xem bãi đá có hình khắc chưa từng biết đến, ông bảo: “Tôi chả tin các nhà khoa học Việt Nam bảo vệ được cái gì. Họ chỉ giỏi nghiên cứu, làm dự án kiếm tiền. Xong rồi thì bỏ mặc cho dân phá. Cách bảo vệ di sản tốt nhất là… không nghiên cứu, không công bố, cứ để mặc kệ nó ở đó!”. Cái cách bảo vệ di sản của ông Lâm thật chả giống nước nào trên thế giới, nhưng có lẽ, ở môi trường này, đó là cách tốt nhất! Sở dĩ, ông dẫn tôi đi xem bãi đá, là để ông nói lên một tiếng, cho đất nước biết rằng, chúng ta có thêm một bãi đá có hình khắc. Mục đích chỉ có thế thôi. Giờ bãi đá lại chìm vào rừng thẳm, sẽ được bảo tồn cả ngàn năm nữa, chứ không thảm hại như bãi đá Sapa, giờ mất sạch rồi.

Đã có lúc, máu khám phá nổi lên, tôi định bụng đi dọc những ngọn núi ở Vân Long, tìm cho kỳ được những bức vẽ ấy, nhưng quả thực, chả khác nào mò kim đáy bể. Ngay việc chui vào khu bảo tồn loài voọc chỉ còn lại duy nhất mấy chục con trên toàn thế giới đã là khó, nói gì đi tìm những bức bích họa. Bởi vì, theo lời kể của Thạc sĩ Nguyễn Ngọc Luyên, trong hoàn cảnh bình thường, những bức bích họa kia chìm trong đá, không ai nhìn thấy. Chỉ khi nào té nước lên vách đá, nó mới hiện lên. Chẳng lẽ, tôi lại đi tìm từng vách đá, rồi xách nước lên té?

Không được chiêm ngưỡng bích họa trên đá duy nhất ở Việt Nam, quả thực, nhiều đêm khó ngủ. Hễ nhắm mắt lại, những bức bích họa màu đỏ trong những lăng mộ vua chúa Ai Cập lại hiện lên rõ mồn một, với đủ hình thù người đóng khố, đội mũ cầm dao kiếm, hoặc cảnh đàn bà múa may quay cuồng…

Nhớ lại cái lần cách đây mấy năm, khi nghe tin trong Vườn Quốc gia Cúc Phương (Nho Quan, Ninh Bình), các cán bộ kiểm lâm phát hiện ra hóa thạch khủng long trên vách đá, cũng tương tự như chuyện bích họa trên đá này. Sau nhiều năm thăm dò, thuyết phục, để tạo sự tin tưởng, tôi mới được lãnh đạo của Vườn cho đi xem, với lời hứa: Không tiết lộ địa điểm trên báo.

Để được tận mắt những bích họa duy nhất ở Việt Nam này, đành phải kỳ công thuyết phục. Rồi cuối cùng, sau 2 năm chờ đợi, tôi cũng được tận mắt chiêm ngưỡng một câu chuyện vô cùng bí ẩn, vô cùng hấp dẫn, đặc biệt, đó là những bức họa kỳ lạ, ẩn hiện ma quái trên một mái đá thuộc một dãy núi đá trồi lên giữa bãi lầy ngập nước…

Tiếp theo > Kỳ bí 'vệt ối đỏ' loang... hiện ra 'người đàn ông dữ tợn'

Du lịch, GO! - Theo VTC

Thứ Ba, 21 tháng 6, 2011

Huyền thoại Kôn Clon

Vùng cao Đồng Xuân ở Phú Yên từ lâu gắn liền với những huyền thoại, nơi có tiếng trống đôi – cồng ba – chiêng năm cùng điệu múa khoan nhặt của những cô gái Ba Na tràn đầy sức sống, nơi có đỉnh Kôn Clon sừng sững với những gộp đá hoang sơ đầy bí ẩn.

Tiếng cồng chiêng giữ hồn núi

Kôn Clon (tiếng Bana có nghĩa là Núi Đá), người Việt gọi là hòn La Hiên có độ cao 1.020m, dưới chân núi là các ngôi làng Xí, làng Thoại, làng Đồng… của người Ba Na sinh sống. Cung đường đầy đá sỏi gập ghềnh, bụi mịt mù trong mùa khô nắng cháy. Một đêm ở lại làng Xí Thoại đã giúp những người khách phương xa hiểu thêm về bộ nhạc cụ trứ danh trống đôi – cồng ba – chiêng năm của người bản địa.

Ngồi quanh choé rượu cần bên ánh lửa bập bùng, già La Chí Thái đã qua tuổi 70 nhưng vẫn vững tay cùng nhịp trống đôi, cho biết: “Trống đôi – cồng ba – chiêng năm là sự pha trộn nhịp nhàng của tiếng trống theo điệu cồng chiêng âm vang. Các âm thanh trống – cồng – chiêng bổ sung, tương tác tạo thành một nhịp điệu hoàn chỉnh, tròn vẹn. Trong bộ cồng chiêng, tiếng trống giữ vai trò quan trọng nhất”.

Đêm về khuya, già La Chí Thái lại dẫn dắt những khách phương xa sang một huyền thoại khác mà chúng tôi muốn hướng đến, đỉnh Kôn Clon. Già chậm rãi kể: “Thời giặc giã, các gộp đá trên đỉnh Kôn Clon chở che cho dân làng quanh chân núi, tương truyền ngày xưa vị anh hùng Võ Trứ khi làm cuộc khởi nghĩa ở Phú Yên năm 1898 cũng từng lấy các gộp đá trên đỉnh Kôn Clon làm nơi ẩn náu của nghĩa quân. Ngày nay, nhiều người làng vẫn gọi nơi đó là hang Võ Trứ”.

Chạm mặt huyền thoại

Hôm sau, chúng tôi khởi hành sớm đến làng Đồng, bắt đầu cuộc hành trình chinh phục đỉnh Kôn Clon. Đồng hành cùng chúng tôi có già Măng Cư. Thời chiến tranh, già Măng Cư đã từng lấy gộp đá trên đỉnh Kôn Clon làm nơi trú ẩn.

Con đường mòn lên đỉnh từ lâu vắng người qua lại bị dây rừng, cỏ cây phủ kín. Càng lên cao, nắng gay gắt hơn, những chai nước cạn dần, bước chân bắt đầu chồn gối khi độ dốc ngày càng đứng, bước chân lên mà như phải bò. Chúng tôi tiến lên đỉnh Kôn Clon trong hồi hộp, mệt mỏi và căng thẳng, bởi chỉ một cú trượt chân, độ dốc cao sẽ là một mối nguy hiểm lớn đến tính mạng.

Gần ba giờ bám mặt vào sườn núi, chứng kiến hàng chục phiến đá khổng lồ như toà nhà hai tầng chèn lên nhau, tạo thành những hốc nhỏ liên hoàn, cuối cùng chúng tôi đã đến đỉnh Kôn Clon.

Bao mệt nhọc tan biến, tất cả nhường chỗ cho trí tò mò đến kinh ngạc. Những phiến đá xếp nhau không theo một trật tự nhất định, tạo thành vô số những lỗ hổng tiếp từ phiến đá này sang phiến đá khác. Có chỗ ngách hẹp đủ một người chui qua, nhưng vào trong lại là một không gian mở toang như căn phòng bí mật chứa được cả chục người. Càng xuống sâu, nhiệt độ thấp dần, hơi ẩm của đá núi toát ra làm lạnh cả sống lưng. Chẳng thế mà xưa kia, gộp đá này trở thành nơi ẩn náu của dân làng mà bên ngoài không cách gì phá sập được. Già Cư cho biết có thời kỳ dân làng ở sâu trong gộp đá hàng tháng trời tránh giặc, men theo hàng trăm mét hang sâu tìm nguồn nước, đêm ra hái lá rừng cầm hơi.

Với người dân quanh vùng, đỉnh Kôn Clon từng chở che, bao bọc, cứu sống dân làng để có được sự trù phú, sung túc như hôm nay.

Già Măng Cư, người dẫn đường lên đỉnh Kôn Clon:

Đến đỉnh Kôn Clon, phương tiện phổ biến nhất là sử dụng xe máy, từ thành phố Tuy Hoà theo quốc lộ 1A ngược ra Bắc độ hơn 20 cây số sẽ đến ngả rẽ vào huyện Đồng Xuân. Từ đây tiếp tục đi qua thị trấn La Hai, rồi các địa danh như Xuân Lãnh, Phú Mỡ, Thồ Lồ là đến làng Đồng của người Ba Na dưới chân đỉnh Kôn Clon. Chỉ người làng Đồng mới rành các lối mòn tìm đến đỉnh núi khám phá các gộp đá trên đỉnh Kôn Clon.

Nên đi vào mùa khô, dù thời tiết nắng rát nhưng sẽ tránh được lũ vắt lá và mưa rừng. Khi vào khám phá sâu trong các gộp nên cẩn trọng dùng sơn xịt làm dấu hoặc dây thừng dài để đánh dấu đường vào hang, tránh bị lạc.

Du lịch, GO! - Theo SGTT

Thứ Ba, 14 tháng 6, 2011

Lão ông 72 tuổi bộ hành từ Nam ra Bắc

“Trong mỗi con người chúng ta, ai cũng nuôi một khát vọng riêng tư. Chính khát vọng ấy là mạch sống, là niềm vui không thể thiếu được. Khát vọng bấy lâu nay của tôi chính là cuộc hành trình đi bộ từ Dinh Thống Nhất TP.Hồ Chí Minh ra Hà Nội thăm lăng Bác bằng đôi chân nhỏ bé này”.

Đấy là tâm sự của cụ Hồ Ngọc Khiết được ghi trong cuốn nhật ký của mình. Tôi tìm gặp cụ vào những ngày tháng 5 nắng như đổ lửa; dưới rặng tre ngà bên lăng Bác, cụ bắt đầu kể cho tôi nghe về cuộc hành trình có một không hai này.

Sinh ra và lớn lên ở Tuy Phước, Bình Định - vùng quê nghèo nhưng con người thì lại có tinh thần thượng võ. Năm 1982, cụ chuyển ra Cát Tiên, Lâm Đồng lập nghiệp. Vốn là người nông dân thuần phác nên con người của cụ cũng hiền lành, chất phác.

Được biết năm 2010 cụ cũng đã từng có một chuyến hành trình xuyên Việt từ Nam ra Bắc bằng xe đạp. Năm nay (2011), cụ lại nuôi ước vọng tiếp tục chinh phục chặng đường ấy bằng đôi bàn chân bé nhỏ của mình. Dù đã ở tuổi thất tuần, song cụ Hồ Ngọc Khiết đã băng qua chặng đường hơn 2000 ki lô mét từ Nam ra Bắc đến với Bác Hồ để tìm lại những ký ức mà anh bộ đội cụ Hồ năm xưa đã từng băng rừng lội suối vượt dãy Trường Sơn trong chiến tranh để giành lại độc lập, tự do cho đất nước. Hôm nay cụ muốn tìm hiểu cuộc sống của những anh bộ đội cụ Hồ bằng chính chặng đường.

Hành trang của cụ thật giản đơn, chỉ có một chiếc ba lô, hai bộ quần áo, một đôi giầy và một chiếc võng, một số thuốc men và một chiếc máy đo huyết áp. Đúng 0 giờ 30 phút ngày 18/2/2011, trước khi thực hiện cuộc hành trình, cụ thắp nén hương dâng lên bàn thờ tổ tiên cha mẹ với tâm nguyện được sự phù hộ để hoàn thành chuyến đi. Sau đó cụ nhánh chóng khoác chiếc ba lô bước nhẹ nhàng ra cửa.

Cụ Khiết kể, một hôm trời sẩm tối, có một cậu bé muốn chở cụ, song vì quyết tâm, nghị lực và vì mục đích của chuyến đi, cụ đã dứt khoát không lên xe của cậu bé. Khoảng 15 phút sau, cậu bé trở lại và đưa cho cụ một ổ bánh mì, cụ cảm động lắm bởi tấm lòng thành của cậu bé.

Chặng đường cụ đi cũng đã gặp phải tình trạng thập tử nhất sinh, tưởng rằng đã chết khi mới đi được nửa chặng đường do bị ngộ độc thức ăn, song mọi sự cố đã qua, vì cụ đã được rất nhiều người tốt chăm sóc.

Trên vạn dặm trường chinh ấy, tuy có mệt và vất vả nhưng cụ được tận mắt ngắm cảnh non sông đất nước. Cụ tâm sự, quê hương đất nước mình thật đẹp, từ những vùng Nam Bộ hai mùa mưa nắng, con người thì phóng khoáng, chân thành cho đến miền Trung nắng gió, con người thì chính trực khẳng khái; rồi thì miền Bắc bốn mùa rõ rệt, con người lại đôn hậu dễ mến… Trên bước đường ấy đã để lại cho cụ rất nhiều kỷ niệm, những khi mắc võng dọc đường nằm nghỉ ngơi hay những lúc xin nghỉ trọ ở nhà dân qua đêm… Cụ đã ghị lại những câu chuyện ấy trong cuốn nhật ký như để trải lòng mình.

Tôi đọc từng trang nhật ký mà thấy cảm động vô cùng: “Thưa ông, cháu rất khâm phục ý chí của ông, dù trời rất lạnh nhưng ông vẫn hành trình như bước chân anh bộ đội cụ Hồ. Cháu cầu chúc cho ông đi đường mạnh khỏe, sớm đến được Lăng Bác” (Dương Thị Thu Lý - Quảng Ngãi). Lại có những vần thơ ghi tặng cụ như thế này “Bảy mươi hai tuổi vẫn bộ hành/Tuy già nhưng vẫn tinh anh thuở nào/Thời gian một thoáng thoi đưa/… Vi hành xuyên Việt sớm trưa chẳng nề” (Thích Quảng Hiếu - Khánh Hòa).

Còn đây là tâm sự của cháu Trần Thị Hương (Vĩnh Linh - Quảng Trị): “… Bác là thần tượng, là biểu hiện của sức mạnh kiên trì và lòng đầy quyết tâm của con người không có điều gì là không thể làm được, không có đỉnh cao nào là không thể vươn tới, không có khó khăn nào là không thể vượt qua… Bác sẽ cảm nhận được sự thân thiện của những con người mà bác đi qua!...”. “Thật là hiếm thấy, ngày nay mọi người đều đang lo làm giàu thì bác lại làm một việc mà chỉ những người có nghị lực và tấm lòng trong sáng mới thực hiện được” (Trần Văn Thành, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa).

Chị Đào Thị Hiền (Làng Quốc tế Thăng Long - Cầu Giấy - Hà Nội) chia sẻ, vì khâm phục và cảm động trước nghị lực của cụ Khiết, mặc dù biết cụ đã đi tàu vào tới Thanh Hóa trên đường về quê nhưng tôi đã gọi điện mời cụ trở lại Hà Nội để được gặp mặt. Chị đã cho lái xe riêng chở ông đi thăm hồ Gươm, con đường gốm sứ và vào khu di tích ở Phủ Chủ tịch. Ngoài ra, chị đã biếu ông một sổ tiết kiệm 10 triệu đồng và đặt vé VIP để vài ngày nữa ông về TP.HCM.

Quãng thời gian trong cuộc hành trình ấy của cụ kéo dài đúng 2 tháng 18 ngày. Đây là chuyến đi về nguồn không chỉ với tâm nguyện được về viếng Lăng Bác hay tái hiện hình ảnh anh bộ đội cụ Hồ những năm tháng mưa bom bão đạn, mà còn nhắn nhủ với thế hệ trẻ mà trước hết là con cháu của mình tính kiên trì, ý chí quyết tâm, rèn luyện bản thân để vươn tới một tương lai tốt đẹp. Hôm nay, đến được với Bác (lăng Bác), thăm Bác là cuộc đời tôi đã mãn nguyện lắm rồi, cụ Khiết chia sẻ.

Du lịch, GO! - Theo baodulich, ảnh TPO

Chủ Nhật, 29 tháng 5, 2011

Thửa ruộng hình trái tim kỳ lạ nhất VN

Thửa ruộng bậc thang hình trái tim ở bản Díu, xã Thèn Phàng cách trung tâm huyện lỵ Xín Mần 40 cây số, trên đường lên cửa khẩu Cốc Pài và thẳng hướng lên đồn biên phòng Xín Mần chốt nơi độ cao gần 2.000 mét. Nhìn lên phía trên là đỉnh núi Gia Long sừng sững ủ ấp biết bao huyền thoại, với những nghĩa địa đầu trâu của người La Chí, mộ vua Gia Long của người La Chí hay chợ phiên Lũng Phình giáp ranh giữa Xín Mần và Bắc Hà của tỉnh Lào Cai…

Tác giả của thửa ruộng ruộng hình trái tim trên dãy Tây Côn Lĩnh là anh Sín Văn Tinh, sống ở bản Thèn Phàng (Xã Thèn Phàng, Xín Mần, Hà Giang). Một trái tim khổng lồ bằng đất, đẹp đẽ đến độ hoàn hảo, ngự trên đỉnh núi, xung quanh là những thửa ruộng bậc thang trùng điệp, ở độ cao gần 2.000 m, chúng cứ nối đuôi nhau “chạy” như lên tận trời.

Các con đường men theo những sườn núi thuộc dãy Tây Côn Lĩnh, đều rất ngoằn nghoèo với độ cua  gấp khúc đến nỗi, người nào yếu ớt thì đi xe máy cũng cảm  thấy nôn nao.

Xe chúng tôi  từ từ “bò” lên đỉnh núi thì cũng là lúc hai tai tôi ù đặc. Xé tan màn sương mờ, vạt núi quanh tôi ngút ngàn hoa dại màu tím nhỏ li ti, xen lẫn những đồi hoa Tam Giác Mạch màu hồng nhạt... Mùa khô, không có nước, những thửa ruộng đẹp đẽ ấy chỉ để hoang hoặc trồng rau cải. Ngay khi mặt trời ló mặt ra khỏi những đám mây trắng như bông, thì vẫn có những làn sương mỏng tang bay qua nóc nhà sàn của người La Chí... Không gian trở nên huyền hoặc và đẹp hút hồn...

Trái tim bằng đất, có 'nguồn gốc xuất xứ' hẳn hoi. Đã đi miền núi khá nhiều lần, nhưng đây là lần đầu tiên trong đời, tôi được tận mắt trông thấy một kỳ quan đẹp và đáng yêu đến thế. Đặc biệt là khi được ngắm nó ở trên đỉnh núi cao. Nó là đứa con tinh thần của Tinh, anh thai nghén nó giống như một nhà văn tài ba, thai nghén, vật vã để cho ra đời cuốn tiểu thuyết ruột gan. Anh cũng giống y như một họa sĩ, nhiều đêm nghĩ suy, bóp trán đắn đo, âu lo về tác phẩm nghệ thuật quan trọng nhất đời mình.

Nhà của Tinh nằm chênh vênh trên sườn núi, ven con đường dẫn lên cột mốc biên giới số 5, xã Xín Mần. Chị Sùng Thị Vẻ, dân tộc Nùng, là vợ của Tinh đang nấu rượu ngô, mùi rượu thơm lừng tỏa ra từ góc bếp. Vợ chồng Tinh hơn kém nhau một tuổi, họ có với nhau hai mặt con.
Tinh là con út trong gia đình gồm sáu anh chị em. Bố mất năm anh được gần 3 tuổi, mẹ tần tảo nuôi đàn con khôn lớn. Hồi Tinh còn nhỏ, chứng kiến sự vất vả của mẹ, anh phải nghỉ học để đi làm nương đỡ đần mẹ.

Khi các chị gái đã đi lấy chồng và lập gia đình riêng, anh trai thứ 2 của Tinh tốt nghiệp trường sư phạm, về làm thầy giáo của bản, anh trai thứ nhất là thành viên trong Ban quản lí hợp tác xã Thèn Phàng. Năm 1993, Tinh lấy vợ là người cùng bản và cùng là người Nùng. Cuối năm đó, mẹ gọi 3 đứa con trai về họp gia đình để chia ruộng nương, mẹ bảo: “Nhà chỉ có vài sào ruộng, các con nhận lấy rồi tự quản lý, theo cách của mình...”.

Tinh được chia toàn bộ ruộng nương trên ngọn núi cao, nơi mà anh đã gửi gắm cả thời bé thơ đầy nhọc nhằn. Chia ruộng xong, chẳng bao lâu mẹ Tinh qua đời.
Tinh bảo, trước khi nhắm mắt xuôi tay, mẹ gọi các con lại dặn rằng: Ruộng nương nhà mình là do mẹ con ta nhọc nhằn lắm mới khai khẩn được, các con đừng bán đi cho dù đã giàu có... Tinh cải tạo thửa ruộng trên núi thành hình trái tim để luôn tưởng nhớ đến mẹ. Mỗi năm vợ chồng anh sửa sang một tí, cắt gọt một chút, mùa màng đến, vợ anh lại cấy lúa nương lên đó, thu hoạch xong, đến mùa khô Tinh lại mang xẻng ra đào, đắp cho trái tim thành hình hoàn hảo...

Xung quanh mảnh ruộng hình trái tim đẹp đẽ bốn mùa mây phủ, còn có một huyền thoại khác mà trai gái bản Díu vẫn kể cho nhau. Chuyện rằng, đấy là tác phẩm tình yêu mà Sín Văn Tinh thao thức bao đêm để dành tặng người yêu – thiếu nữ Nùng có tên Sùng Thị Vẻ ở bản Pồ Cố.
Thuở ấy, gã trai bản vừa như con gà trống choai mới lớn, đem lòng thầm yêu trộm nhớ cô thiếu nữ xinh đẹp như đóa hoa rừng. Mối tình đơn phương ấy cứ ngấm ngầm lớn mãi. Tinh biết, Vẻ cũng đã hiểu lòng Tinh, chỉ đợi một đêm trăng sáng, nơi bờ suối đầu bản, Tinh cầm tay Vẻ, rồi thì thầm một điều…, nhưng mà Tinh chưa làm được…

Ở Thèn Phàng, cái khoảnh ruộng quý như bát nước giữa cơn nóng nực. Bởi, một mùa phát cây, dẫy đất, nửa con trăng bắc ống bương, ống vầu dắt con nước từ mãi khe núi trên cao tít về… Mùa thứ hai, đất mới mắt nước, đưa cái cuốc xuống, đất mới lật thân để cây lúa bén rễ, rồi mới ăn đời ở kiếp, mới thành khoảnh ruộng. Tinh nghĩ mãi, thao thức mấy đêm trăng. Mẹ hiểu lòng con trai, chỉ biết thở dài…
Rồi, đến một ngày, Bản Díu ngỡ ngàng, nơi khoảnh đồi của Tinh, trên chót cùng, một ô ruộng hình trái tim bỗng nở hoa cây lúa. Không quản bao công sức của người trai bản, đất cũng mở lòng… Nơi khoảnh ruộng ấy, người đầu tiên gã trai hiền lành và nhút nhát ấy dẫn ra, là Sùng Thị Vẻ.

Câu chuyện ấy đã xảy ra cách đây cả chục năm có lẻ. Thế mà, nó vẫn truyền mãi, cho những đứa trẻ bản Díu bây giờ. Chúng bảo, đấy là ruộng tình yêu của chú Tinh, cô Vẻ! Bây giờ, Tinh và Vẻ đã có con lớn, đã về ở một nhà, ăn đời sống kiếp cùng nhau. Những vất vả cuộc sống, vẫn không làm tình yêu nơi họ già đi, mà dường như, nó vẫn nồng nàn như cái nhìn đầu tiên bên suối.
Mảnh đất hùng vĩ, hoang sơ mê hoặc du khách có máu hải hồ bởi chính những nhọc nhằn của nó. Trong muôn ngàn những cơn cớ, có thể có cả hình ảnh lãng mạn được bao bọc bởi huyền thoại có tên… trái tim của đất…

Du lịch, GO! - Theo Vietnamnet

Về nơi hoang dã của người Tà Rụt

Trên dãy Trường Sơn đại ngàn hùng vĩ và bên dòng Đakrông huyền thoại, ít người biết rằng ở một thị tứ mang dáng dấp của một đô thị hiện đại vẫn còn có một “bộ tộc” cởi trần. Từ trẻ con, người lớn, cho đến các già làng đều không mặc áo. Một nét hoang sơ giữa đàn ngàn xanh thẳm của người Vân Kiều, PaKo ở Tà Rụt, huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị …

Xa xôi Ta Rụt

Tôi đã từng nghe hai câu thơ của nhà thơ Tố Hữu khi viết về dãy đại ngàn Trường Sơn nổi tiếng: Trường Sơn Đông nắng Tây mưa/Ai chưa đến đó thì chưa rõ mình. Và có lẽ chưa đếnTà Rụt thì chưa hiểu được Tà Rụt, và mình chưa hiểu được chính mình.

Từ huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên – Huế, chúng tôi xuôi theo đường mòn 14 (Hồ Chí Minh), khắc khổ, oằn mình vắt qua những dãy núi như những rải lụa ẩn hiện trong sương mờ. Thời tiết rừng Trường Sơn cũng thật khó đoán, chẳng khác gì những đứa con gái mới lớn thích đỏng đảnh. Có khi đang nắng ấm, nhưng chỉ chưa đầy 10 phút sau lại mưa nhễ nhại, mưa như trút.

Hơn 89 km, với con đường quanh co, khúc khuỷu, uốn lượn theo sườn núi, bám theo dòng sông Đakrông. Nước sông mùa này không nhiều, thậm chí cạn ráo để trơ những lèn đá liêu xiêu hay những bãi cuội vàng ươm, óng ánh. Hai bên sườn núi dựng đứng cao vút, bỗng thấy mình lọt thỏm giữa đại ngàn trùng điệp, núi tiếp núi lô nhô, sừng sững.

Con đường sáng lên màu xám bạc tựa như con rồng con rắn đang uốn mình bên những đại ngàn phủ một màu xanh thẫm. Có những đoạn đường nằm chênh vênh tưởng như đang treo bên sườn núi, sườn đổ xuống phía sông dốc sâu thăm thẳm. Lúc sương mù, mưa phùn trắng xóa, thoáng rùng mình khi con đường vắng tanh, thỉnh thoảng mới có bóng người phóng xe, tạt qua. Nhìn những vách núi dựng đứng, bên cạnh là những vực sâu hun hút, chúng tôi không khỏi rùng mình ái ngại khi những cơn mưa bất chợt ập đến, trong khi đó mọi người bảo đoạn đường này thường xuyên xẩy ra tình trạng lở núi, đá rơi. Chiếc xe chúng tôi đi vừa ỳ ạch vượt qua đèo Peeke với độ dài hơn 8000m, dường như quá nổi sức chịu đựng, chiếc xe bốc mùi khét lẹt…

Vượt qua bao khó khăn, nguy nan, cuối cùng chúng tôi cũng đến được Tà Rụt xa xôi. Tà Rụt nằm lọt thỏm giữa bốn bề mây trắng, như một ốc đảo thấp thoáng trong sương mù. Hai bên con đường mòn bạc trắng, lác đác mấy cái nhà xây hai tầng, một cột ăng-ten của viễn thông có vẻ ra dáng thị thành, mà Tà Rụt là một thị tứ. Hai bên đường có nhiều quán nhậu, quán café, quán karaoke, quán bán tạp hoá, bán hàng điện tử, tiệm may… đủ cả. Bên những vệ đường mấy cô sơn nữ Pakô vẫn mang achói, miệng ngậm tẩu thuốc nhưng áo và xấn cũng bằng vải người Kinh đưa lên, cũng có mấy mế mang xấn thổ cẩm. Có những chiếc xe Wave Tàu lao vun vút do hai hoặc ba thanh niên dân tộc phóng đi vẫn đầu trần không mũ bảo hiểm.

Chính những điều đang diễn ra nơi đây khiến chúng tôi hồ nghi có một bộc tộc ở trần đang sinh sống ngay cạnh những thứ “xa hoa, xa xỉ” ở thị tứ Tà Rụt xa xôi này. Nhưng, đó là thông tin của ông bạn thân hữu, nhiều năm lặn lội trong vùng rừng núi đại ngàn Trường Sơn, và tôi quyết định nán lại hỏi cho rõ sự tình. Táp vào quán nước vệ đường, gọi chai nước uống ngồi lân la hỏi chuyện. “Cuộc sống nơi đây cũng khấm khá vậy mà mọi người cứ đồn đại, đến quần áo không có mà mặc, mọi người toàn ở trần”, tôi bắt đầu gợi chuyện.

Người đàn ông ngoài tứ tuần cười hóm hỉnh: chỉ được tí ngoài mặt đường thôi, các anh cứ đi sâu vào trong bản khoảng trăm mét thì là một thế giới khác rồi. Bản… ở trần các anh cần tìm đó. Và theo cái chỉ tay của ông chủ quán tóc muối tiêu, chúng tôi nổ xe vào sâu trong bản, nơi có bộ tộc ở trần đang sinh sống, những cái lạ, cái xa xôi giữa đại ngàn…

Diện kiến “bộ tộc” độc nhất nhì Việt Nam

Vượt qua những ngôi nhà khang trang, men theo con đường nhão nhoét bùn, chúng tôi tiến sâu vào bản. Dọc hai bên đường, những ngồi nhà sàn lúp xúp nằm rải rác bên sườn đồi, vài đứa trẻ trần truồng đen nhẻm, có đứa quần áo lếch thếch bẩn thỉu chơi bên hiên nhà đưa ánh mắt lạ lẫm nhìn chúng tôi dò xét. Bên ô cửa sổ, vài cụ già ở trần, ngồi trầm mặc, miệng ngậm tẩu thuốc nhoẻn cưới với những vị khách lạ.

Hít một hơi dài, chúng tôi bước vào ngôi nhà sàn khá rộng lớn đang có nhiều người trò chuyện. Bên bếp tro tàn, khoảng 6 người đang ngồi trò chuyện vui vẻ. Trong đó 4 người phụ nữ, người ít tuổi nhất khoảng 30 tuổi, còn người nhiều tuổi nhất ngoài 70 đều ở trần, 2 người đàn ông thì đóng khố. Thấy khách lạ, một người tuổi tự xưng là chủ nhà mời chúng tôi vào ngồi cùng. Hỏi ra mới biết, bà tên Kăn Giêng ở bản Tù Rụt 2, và những người xung quanh đều là con cháu và hàng xóm của bà.

Khi chúng tôi hỏi, vì sao bây giờ kinh tế đã no đủ, sao người dân vẫn đóng khố, ở trần là sao. Bà Kăn Giêng vui vẻ trả lời: Đúng là hiện nay người dân nơi đây đã no đủ, tuy nhiên nhiều người vì quen ở trần rồi nên khi mặc quần áo vào thấy bứt dứt khó chịu lắm. Còn nhớ vài chục năm trước, người dân nơi dây từ trẻ đến già đều đóng khố, ở trần hết. Bây giờ người dân có điều kiện và được tiếp xúc với “thế giới hiện đại” nên cũng ý thức được nhiều điều. Chẳng hạn khi ra ngoài thì phải mặc quần áo cho “đỡ phản cảm”, còn ở nhà, nếu mọi người thích thì cứ ở trần. Những cô gái trẻ, chưa chồng họ đều mặc quần áo, không ai ở trần cả. Mùa này là mùa lạnh nên ít người ở trần chứ vào mùa hè, gió Lào thì muốn tìm được người phụ nữ nào trên 30 tuổi mặc áo mới khó.

Chia tay nhà Kăn Giêng, chúng tôi tiếp tục đi sâu vào trong bản, người đàn ông mặc khố, mình trần đang phăm phăm cuốc vườn. Đó là ông Ko Nam (80 tuổi), ông có nước da rắn rỏi, cơ bắp cuồn cuộn, khỏe mạnh. Gặp chúng tôi, ông nghỉ tay trò chuyện, ông bảo: Tôi thường làm những công việc nặng nhọc, ra mồ hôi nhiều, chính vì vậy mà tôi không thích mặc quần áo vì rất vương víu và nóng bức. Mặt khác, từ nhỏ tôi đã quen với việc cởi trần rồi, giờ mặc áo thấy khó chịu. Giờ xã hội văn minh hơn, nhưng tôi cũng chỉ cần may một bộ quần áo dài, để khi đi đâu thì mặc thôi…

Trao đổi với chúng tôi, ông Kray Sức, cán bộ văn hóa xã Tà Rụt cho biết: Tà Rụt là nơi sinh sống của dân tộc Pa Cô, Vân Kiều, Tà Ôi, Kinh… Trong đó người Pa Cô chiếm tỷ lệ nhiều nhất và cũng là người thích ở trần như mọi người gặp. Người Pa Cô thường tập trung sinh sống trong các bản làng cách xa trung tâm xã.

Cũng theo Kray Sức thì việc người dân ở trần hoàn toàn không phải do tục lệ, cũng không phải vì nghèo túng, mà đó chỉ là do thói quen. Mà thói quen của mọi người thì chính quyền không thể can thiệp được, bởi họ thường chỉ mặc như vậy khi ở nhà, làm vườn và đi nương thôi, đi ra ngoài thì họ vẫn mặc áo bình thường như bao người khác.

Tìm về gia đình mẹ Kôn Thăng , mẹ có cả thảy chín người con, dâu rể. Ba đứa út vẫn còn đi học. Chồng mất sớm, còn một mẹ già thì đau ốm nằm liệt giường cả năm nay. Ở cái tuổi 50 nhưng ngày ngày mẹ vẫn phải quần quật với nương rẫy để lo cho  gia đình và ba đứa ăn học.

Đất của gia đình cũng chỉ có khoảng 4ha, nhưng khi ông Chủ tịch xã tìm đất xây trường học, mẹ không ngần ngại hiến hơn 1.000m2 đất. “Cái thời của mẹ không biết cái chữ nên mới nghèo. Nay Nhà nước quan tâm cho dựng trường để con cháu mình đi học. Nghèo cũng nghèo rồi, mất ít đất thì kể chi” – mẹ Kôn Thăng quả quyết… Và cũng như bao thế hệ trước của người Tà Rụt, mẹ Kôn Thăng chỉ lúc nào se lạnh mới khoác chiếc áo trên người. Hàng ngày dầm mưa dãi nắng, mẹ cũng chỉ cái quần quấn và mảnh lưng trần vậy thôi.

Càng đi sâu tìm hiểu về người Tà Rụt, chúng tôi cảm nhận còn nhiều điều hoang sơ lắm. Nhưng, giờ đây, có nỗi buồn mà các người già Tà Rụt không “ưng cái bụng” là nạn “đi sim” của giới trẻ. Xưa, “đi sim” là một phong tục đẹp để những đôi trái gái tìm hiểu và yêu nhau, tự do quan hệ và đến với nhau nếu thật lòng yêu thương.

Giờ đây, “Đi sim thời… hiện đại đã làm nạn tảo hôn diễn ra khá phổ biến ở những bản làng heo hút vùng cao sát biên giới và không ít những trường hợp kết hôn khi tuổi còn rất nhỏ”- Anh Kray Sức, Cán bộ văn hoá xã Tà Rụt nói với chúng tôi khi nhắc đến tục “đi sim”. Kray Sức cho biết thêm: “Mặc dù chính quyền xã đã có nhiều biện pháp ngăn chặn tình trạng trên nhưng xem ra không mấy hiệu quả. Trai gái sau khi “đi sim” rồi lén lút cưới nhau hoặc gia đình khai thêm tuổi để được cưới. Nạn tảo hôn không chỉ ảnh hưởng đến sức khoẻ sinh sản mà còn đẩy những hộ gia đình đến cảnh túng quẫn nghèo đói!”. Kray nhìn tôi rồi thốt ra một câu buồn lê thê, “giá như Tà Rụt không có “đi sim” biến tướng”!?

Chiều về muộn, những cơn mưa phùn bất ngờ ập đến, lạnh lẽo giữa dãy núi Trường Sơn đại ngàn hùng vĩ. Trong những ngôi nhà sàn bên cạnh bếp đỏ lửa, những người đàn bà mặc váy, mình trần, những người đàn ông đóng khố, nói chuyện vui vẻ. Thấp thoáng bên ánh lửa chúng tôi chỉ thấy họ thật đẹp, thật ấm cúng, hạnh phúc mà không hề có một ý nghĩ trần tục. Bên ngoài, từng cột khói mang hình thù kỳ lạ, lững lờ bay ra từ khu bếp, khiến chúng tôi có tâm trạng lạ kỳ, dường như câu nói “người đẹp vì lụa…” không hẳn lúc nào cũng đúng.

Du lịch, GO! - Theo báo Phaply, Nguoiduatin

Thứ Hai, 28 tháng 3, 2011

Kỳ lạ núi đôi

Với hình dáng kỳ lạ và được gắn những câu chuyện mang đầy màu sắc huyền thoại, núi đôi Quản Bạ (hay còn gọi là núi Cô Tiên - PV) đã trở thành một trong những điểm nhấn trong hành trình lên cao nguyên địa chất Đồng Văn (tỉnh Hà Giang) của du khách, là đề tài hấp dẫn cho những tay máy săn ảnh chuyên nghiệp tìm đến.

Nằm phơi mình giữa một thung lũng nhỏ bé bên phố núi Tam Sơn, huyện Quản Bạ, xung quanh là những thửa ruộng cao thấp liền kề, được tô điểm thêm những nếp nhà đất nâu óng màu thời gian mang đậm sắc màu miền cao nguyên đá, núi đôi Quản Bạ như hút hồn lữ khách mỗi dịp đến với nơi này bởi sự thơ mộng tuyệt trần đầy thi vị. 

Thời gian đẹp nhất để chiêm ngưỡng cảnh sắc của núi đôi là vào mùa xuân và mùa hạ, lúc mà những thảm cỏ, cây bụi trên “hai trái đào” Cô Tiên đang xanh tươi mơn mởn vừa mới bật chồi, sinh lộc hay lúc mùa lúa chín vàng óng, rực rỡ trên các thửa ruộng bậc thang.

Đứng trên đỉnh đèo của quốc lộ 4C mà người dân Hà Giang vẫn quen gọi là đường Hạnh Phúc, du khách có thể quan sát một cách trọn vẹn vẻ đẹp thuần khiết, tinh tế của núi đôi.
Không nhớ có từ thuở nào, nhưng từ bao đời nay núi đôi vẫn đẹp và hấp dẫn thế và câu chuyện huyền thoại về núi đã ăn sâu vào trong tiềm thức của những đồng bào dân tộc nơi đây.

Chuyện xưa kể rằng: ở miền Quản Bạ nhiều sương núi giăng giăng này có một chàng trai người H’mông tuấn tú, thổi đàn môi rất giỏi làm mê đắm, xiêu lòng biết bao thiếu nữ miền sơn cước. Tiếng đàn môi của chàng réo rắt như tiếng suối, ríu rít lảnh lót như tiếng chim rừng, lúc lại sâu lắng, trầm bổng, da diết như tiếng gió giữa đêm khuya cứ bay xa, bay xa mãi và vang lên cả trời xanh. Có một nàng tiên xinh đẹp tuyệt trần trên thượng giới tên là Hoa Đào tình cờ nghe được tiếng đàn môi của chàng đã theo gió trốn xuống trần gian tìm người thổi đàn môi ấy rồi phải lòng chàng nên nàng tìm cách ở lại. Cuộc hôn nhân giữa người và tiên đã thành, họ nên vợ nên chồng và sinh được một bé trai.

Ngọc Hoàng phát hiện ra chuyện Hoa Đào bỏ trốn xuống trần gian lấy người phàm đã vô cùng giận dữ, sai người đi bắt nàng về. Thương chồng một mình nuôi con vất vả, thương con thơ thiếu bầu sữa mẹ, nàng đã bỏ lại đôi bầu vú của mình dưới hạ giới cho con bú. Đôi nhũ căng tròn nuôi con nàng ngày càng khôn lớn, sau này đã biến thành hai quả núi dáng hình như bầu vú mẹ, tròn trịa, đều đặn đến lạ thường. Hai quả núi đó được gọi là núi đôi hay núi Cô Tiên.

Tương truyền nhờ dòng sữa của nàng mà vùng đất này có khí hậu vô cùng mát mẻ, các loại hoa trái như đào, mận, lê, hồng,… (những sản vật của huyện Quản Bạ) có hương vị thơm ngon kỳ lạ, rau trái luôn xanh tươi, lúa ngô tươi tốt. Nước mắt khóc thương chồng con của nàng đã biến thành dòng sông Miện xanh ngắt chảy xuyên bao bọc lấy miền núi đá tai mèo.

Theo các nhà khoa học địa chất thì núi đôi Quản Bạ được hình thành từ quá trình vận động tạo sơn của thềm lục địa vỏ trái đất, sự đứt gãy của các khối núi đá vôi. Đây là nơi chuyển tiếp giữa địa tầng đá vôi với núi đất.
Chu vi của hai ngọn núi gần 1.000m, 2 ngọn núi tròn đều với diện tích xấp xỉ 3,6 ha.

Theo Thanhnien

Thứ Hai, 22 tháng 11, 2010

7 qui tắc cần nhớ khi lái xe máy đi phượt

Không biết tự bao giờ, trong từ điển tiếng Việt, cái khái niệm "LẠC ĐƯỜNG" đã được thay thế bằng 2 từ ý nghĩa hơn "KHÁM PHÁ". Và đặc biệt, niềm đam mê du lịch khám phá bằng xe máy ngày càng thu hút nhiều bạn trẻ.

Tuy nhiên, cái phương tiện 2 bánh gắn động cơ này luôn chứa đựng nhiều rủi ro trên những cung đường xa. Sau đây là một vài quy tắc và kinh nghiệm mà các bạn trẻ, đặc biệt là các bạn mới đi lần đầu cần lưu ý cho những chuyến PHƯỢT an toàn và ý nghĩa.

1. Quy tắc cơ bản - Prime Directive:

Quy tắc đơn giản và quan trọng nhất là "hãy tin vào người sau lưng bạn". Cũng có nghĩa "bạn phải tránh người phía trước bạn". Giả sử khi người đi đầu quẹo trái, người thứ hai sau đó vài giây mới nhận ra và vội quẹo theo: nếu người thứ 3 không để ý sẽ đâm và có thể gây tai nạn liên hoàn. Dù là đi hàng một nhưng cách xe vẫn nên đi so le với nhau thành 2 hàng trên 1 làn.

2. Đóng cửa hông - Door closed:

Khi đi đường dài trong một nhóm có đội hình hàng hai hoặc tản mát, nếu một người chạy bên cạnh đội hình mà gặp chướng ngại(hoặc làn đường đột ngột thu hẹp) thì người đó phải có trách nhiệm tự giảm tốc độ và đi nối vào sau đoàn xe.

Tuyệt đối không lao vào giữa đoàn có thể gây tai nạn cho cả đoàn. Nếu có thành viên thiếu kinh nghiệm mà làm như vậy, thành viên đi phía trong có thể dùng thân xe ngăn cản và ra hiệu lui về phía sau.

3. Luật 2 giây - 2 secs rule:

Một người đi xe máy bình thường cần 1 giây để nhận ra tình huống và 1 giây để xử lý. Nếu đòan đi 40km/h các xe cần cách nhau khoảng 2 giây ~ 20m. 50km/h ~ 26m. 80km/h cách nhau 45m-60m. Khi đi xuống dốc thời gian cần tăng lên 3 - 4 giây. Các xe trong một nhóm chịu ảnh hưởng theo kiểu sợi dây thun, nên người đi đầu cần rất tỉnh táo khi tăng tốc và ra hiệu tăng tốc. Nếu vừa tăng tốc đã dừng lại vì lý do gì đó có thể khiến toàn đội hình đâm vào nhau. Tuy nhiên một số trường hợp để tránh bị các xe lạ chen vào giữa, người đi đầu có thể chủ động ra hiệu lệnh thu hẹp khoảng cách và giảm tốc. Các nhóm nhiều kinh nghiệm có thể di chuyển rất sát nhau.

4. Quy mô nhóm - Group size:

Một nhóm xe máy không nên quá 6 chiếc nếu 1 thành viên không có kỹ năng đi nhóm. Chỉ vượt quá 8 chiếc nếu tất cả thành viên đã quen với kiểu đi của nhau.

5. Kinh nghiệm và vị trí - Exp. & Pos:

Người nào càng ít kinh nghiệm thì vị trí của người đó càng gần về cuối. Làm như vậy là để người đó không gây tai nạn liên hoàn nếu xảy ra. Người đi cuối cùng phải biết về xe và có đồ nghề sửa xe, có thể là trưởng đoàn. Nên có bộ đàm liên lạc với người đi đầu.

6. Trước khi lên đường - Pre-voyage Briefing:

a. Tóm tắt quãng đường di chuyển.
b. Mô tả cách vượt, chuyển làn, cách xử lý khi nhóm bị thổi phạt, bị tách rời(nhóm trước dừng lại hay nhóm sau đuổi theo).
c. Thống nhất tần số bộ đàm.
d. Phổ biến cách ra hiệu bằng tay.
e. Xếp đặt vị trí
f. Kiểm tra máy móc và các thiết bị bảo hiểm
g. Đi thử một vòng kiểm tra trước nếu có thời gian.

7. Hợp tác và chia sẻ - Collaborative Group Riding:

Một chuyến đi xa bằng xe máy thử thách mọi yếu tố: lòng dũng cảm, sức chịu đựng của cơ thể, thần kinh, các kỹ năng, mức độ sẵn sàng, khả năng làm việc theo nhóm.Chiếc xe là của bạn nhưng phải tuân thủ các yêu cầu của nhóm. Dừng lại theo nhóm, đổ xăng, ăn uống nghỉ ngơi theo nhóm. Sẵn sàng giúp đỡ các bạn khác khi xe của họ gặp trục trặc và họ cũng giúp bạn như vậy. Việc sở hữu một chiếc xe nhiều khả năng hơn không có nghĩa bạn sẽ đi đầu mà nó phụ thuộc trình độ đi của bạn. Nếu trình độ bạn cao tự nhiên lần sau vị trí của bạn sẽ tăng lên.

Khi đi trên đường ngòai việc chào hỏi các nhóm khác, không nên tùy tiện gia nhập vì lý do an toàn của bản thân bạn. Không khiêu khích hoặc nhận xét thô thiển về các loại xe của nhóm khác. Chỉ phát ngôn liên quan đến kỹ thuật khi mình biết rõ và có kinh nghiệm.

Du lịch, GO - Theo YeuDuLich, Quanviahe, internet